Chương 11: Tấm huân chương không cầm
– Cháu gái! Cầm cho ông cái này!
Ông cụ nói to đến mức con mèo Lãi trên nóc két giật mình đứng dậy, rồi lại nằm xuống, vẻ cam chịu. Khuê đang ghi sổ, ngẩng lên.
Ông cụ đứng thẳng ở ô cửa, người thấp nhưng vai rộng, đầu đội mũ cối đã bạc màu, áo khoác bộ đội cũ cài kín cổ. Ông đặt lên mặt quầy một cái hộp nhỏ bọc nhung đỏ, đặt mạnh tay, như đặt một quân cờ quyết định.
Sáng thứ Năm, hai mươi bảy tháng Mười Một. Ngày thứ hai tiệm nhận cầm đồ trở lại. Hôm qua, có ba người đến cầm. Một cái điện thoại, một sợi dây chuyền, một cái xe máy kèm giấy tờ. Khuê làm từng hợp đồng, kiểm từng căn cước, viết biên nhận lên giấy pơ-luya, gấp đôi, xé tay. Lần đầu tiên cô xé, mép giấy lệch hẳn sang một bên, xấu như vết răng chó gặm. Lần thứ ba thì khá hơn.
Cô mở cái hộp nhung.
Bên trong, nằm trên lớp lót sa tanh đã ngả màu, là một tấm huân chương. Ngôi sao năm cánh, dải ruy băng đỏ vàng. Kèm theo là một tờ giấy chứng nhận gấp tư, mép đã sờn, nét chữ đánh máy cũ.
Khuê đóng hộp lại, đẩy về phía ông cụ.
– Cháu xin lỗi ông. Tiệm cháu không cầm huân chương.
– Sao lại không cầm?
– Ông cháu dặn thế ạ.
Câu ấy không phải bịa. Năm cô chín tuổi, có một người đàn ông mang tấm huân chương của bố mình đến cầm. Ông không nhận. Người đàn ông đi rồi, cô hỏi tại sao. Ông bảo: "Có những thứ không có giá, con ạ. Không có giá thì không cầm được." Cô hỏi thế thì làm gì được. Ông bảo: "Giữ hộ thì được."
Ông cụ đội mũ cối nhìn cô, rồi ông cười phá lên, tiếng cười ồ ồ như tiếng máy nổ.
– Đúng là cháu ông Quyến. Ông biết. Ông biết là không cầm. Ông thử cháu đấy.
Ông bỏ mũ ra, để lộ cái đầu cạo trọc lởm chởm tóc bạc, ngồi xuống ghế nhựa.
– Ông tên Đoái. Cấn Văn Đoái. Nhà ông ở phố bên kia hồ. Ông biết ông cháu từ năm chín mươi. Năm ấy ông xuất ngũ về, không có nghề, ông cháu cho ông ngồi cái góc kia ba tháng, dạy ông sửa đồng hồ. Ông không học được. Tay ông to quá, cầm cái tua vít như cầm cái xẻng. Nhưng ba tháng ấy ông có cơm ăn.
Khuê rót cho ông một chén chè.
– Ông muốn giữ hộ ạ?
– Ông muốn cháu giữ hộ. Nhưng phải viết biên nhận. Như cầm. Xé đôi. Ông cầm một nửa.
– Sao lại phải như cầm ạ?
Ông Đoái uống một ngụm chè, đặt chén xuống, chép miệng.
– Thằng con ông. – Ông nói, giọng nhỏ đi một nửa. – Nó bốn mươi tám tuổi, nó mắc nợ. Nó vay của cái chỗ "tài chính" gì đấy, ở góc phố đằng kia. Bây giờ người ta đòi. Nó nghe đâu có người sưu tầm mua huân chương, trả mấy chục triệu. Mấy hôm nay nó lục tủ nhà ông. Ông biết. Ông giả vờ không biết.
Ông vỗ tay lên cái hộp nhung.
– Ông giấu đâu trong nhà nó cũng tìm ra. Ông mang sang đây, viết biên nhận, ông bảo nó là ông cầm rồi. Ông cầm rồi thì nó biết là phải có tiền chuộc mới lấy ra được. Mà tiền chuộc thì nó không có. Thế là xong.
– Thế nếu anh ấy mang biên nhận đến chuộc thì sao ạ?
– Thì cháu bảo không phải người cầm. – Ông Đoái nói. – Ông nghe nói cháu đuổi thằng Duy con bà Nụ rồi. Cả phố biết. Bà Mẫn kể.
Khuê không nhịn được cười. Phố này không có bí mật nào giữ được quá hai ngày, trừ những bí mật được giữ bốn mươi năm.
Cô lấy một tờ giấy pơ-luya, viết: "Giữ hộ. Một huân chương kèm giấy chứng nhận. Ông Cấn Văn Đoái. Không tính tiền." Rồi cô gấp đôi, xé tay. Lần này mép xé đẹp, răng cưa đều.
– Không tính tiền là không được. – Ông Đoái gạt tay. – Ông đưa mười nghìn. Cho nó sòng phẳng.
– Ông ơi, giữ hộ thì không lấy tiền.
– Thì cháu coi như tiền chè. – Ông đặt tờ mười nghìn lên quầy, đứng dậy, đội mũ cối. – Ông cháu ngày xưa cũng lấy của ông mười nghìn. Đến bây giờ ông vẫn không biết ông ấy lấy để làm gì.
Khuê nhìn tờ mười nghìn. Cô nhớ đến dòng chữ trong sổ chi: "cá cho Lãi: 30.000". Cô biết ông lấy để làm gì.
Cô mang cái hộp nhung vào kho, đặt vào một ngăn trống trong két, ghim nửa tờ biên nhận lên nắp hộp. Rồi cô mở bảng tính, thêm một dòng. Ở cột "Số tiền", cô gõ số không. Ở cột "Ghi chú", cô gõ: "Ông Đoái bảo năm chín mươi ông ấy cầm tua vít như cầm xẻng."
Thằng Tũn đến lúc trưa, đọc trộm dòng ấy, nhăn mặt.
– Chị Khuê ơi, cột số tiền ghi số không thì tiệm mình lấy gì mà sống?
– Lấy tiền chè. – Khuê chỉ tờ mười nghìn trên quầy.
– Mười nghìn một cái huân chương. – Tũn lắc đầu, rút điện thoại ra bấm. – Chị biết không, nếu tiệm mình chỉ nhận đồ giữ hộ, mỗi món mười nghìn, thì phải giữ hộ bốn nghìn sáu trăm món mới đủ lãi bằng một tháng lương của chị hồi làm kiểm toán.
– Ai bảo em lương chị bao nhiêu?
– Mẹ em. – Tũn nói, rồi chợt nhận ra mình vừa lỡ lời, vội cúi xuống chụp sổ.
Chiều thứ Năm, Khuê nhận một cuộc gọi của anh Lạc.
– Chị Khuê ơi, chị hiểu lầm em rồi. – Giọng anh ta líu ríu như có ai đuổi. – Cái anh Mạnh ấy em chỉ quen sơ sơ. Em có nhắc với anh ấy về cái máy ảnh, em chỉ nói thế thôi, anh ấy tự làm. Em không biết gì về cái giấy giả. Chị nói với bên công an giúp em…
– Anh làm việc với bên công an thì anh nói với bên công an. – Khuê nói. – Em không biết anh biết gì. Em chỉ biết anh Mạnh có một bản sao nửa tờ biên nhận thật. Anh lấy bản sao ở đâu?
Đầu dây im lặng mất ba giây.
– Em không biết chị nói gì. – Anh Lạc nói, rồi cúp máy.
Mười phút sau, bố cô gọi.
– Con báo công an anh Lạc làm cái gì? – Giọng ông gắt, vang cả loa. – Người ta là môi giới của bên mua. Con làm thế, người ta nghĩ nhà mình làm khó dễ.
– Anh ấy thuê người làm giả biên nhận để lấy đồ trong tủ của ông, bố.
– Bố không biết chuyện đó.
– Con biết bố không biết. – Khuê nói. – Nhưng bố kể với anh ấy trong tủ có cái máy ảnh.
Đầu dây bên kia im lặng. Khuê nghe tiếng máy in xưởng bố cô ầm ầm, rồi tiếng ông bước ra ngoài, tiếng cửa đóng, tiếng ồn nhỏ đi.
– Bố nói thế bao giờ?
– Anh Lạc bảo bố nói hôm đi đo nhà.
– Thì bố đoán. – Bố cô nói. – Ông cụ giữ cái tủ ấy từ hồi bố còn đi học. Hồi ấy có người cầm cái máy ảnh. Bố đoán là nó.
– Ai cầm hả bố?
– Bố không nhớ.
– Bố nhớ.
Đầu dây bên kia lại im lặng, lần này lâu hơn. Khuê đã chuẩn bị nghe bố cô quát. Nhưng ông không quát.
– Khuê. – Ông nói, giọng mệt đến mức cô suýt không nhận ra. – Có những chuyện con đừng đào lên. Đào lên không được gì đâu. Chỉ thấy bùn.
Rồi ông cúp máy.
Sáng thứ Sáu, Khuê lên phường.
Trụ sở công an phường là một toà nhà ba tầng, sơn vàng, cửa sổ có song sắt. Anh Thuận đón cô ở cửa, dẫn lên một phòng làm việc nhỏ trên tầng hai, có cái bàn dài, mấy cái ghế, một cái quạt cây và một chậu cây lưỡi hổ trên bậu cửa sổ. Anh ta mặc quân phục, cầm theo một tập hồ sơ, và có vẻ hoàn toàn khác với người đàn ông lùi lại một bước dài trước con mèo.
– Hôm nay tôi làm việc với chị về đơn trình báo. – Anh ta nói, mở hồ sơ. – Việc này là xác minh, chị đừng lo. Chị trả lời những gì chị biết. Không biết thì chị nói không biết.
– Vâng.
Anh ta hỏi. Cô trả lời. Cái tủ ở đâu, ai giữ chìa khoá, trong tủ có gì. Cô nói thật: một cái bọc vải dầu, cô chưa mở, theo lời dặn của ông. Kèm theo có một mẩu bìa và nửa tờ biên nhận số 417, ngày 19 tháng 10 năm 1985. Cô đưa anh ta xem ảnh chụp mẩu bìa: "Của người ta. Ai mang nửa kia của biên nhận 417 đến chuộc thì trả, không lấy lãi. Không ai đến thì đừng bán, đừng mở."
Anh Thuận đọc mẩu bìa trong ảnh hai lần. Rồi anh ta ghi chép kín một trang.
– Đơn trình báo nói cái máy ảnh ấy là tài sản của gia đình liệt sĩ Đinh Quang Lịch. – Anh ta nói. – Người làm đơn đề nghị công an can thiệp để tiệm giao trả tài sản cho gia đình.
– Anh Thuận, em hỏi anh một câu được không?
– Chị hỏi.
– Nếu cái máy ảnh ấy đúng là của gia đình ông Lịch, thì em có phải đưa cho người làm đơn không?
Anh Thuận gập hồ sơ lại. Anh ta nhìn cô, cái nhìn không phải của người đọc hồ sơ nữa, mà của một người đang nghĩ xem nên giải thích thế nào cho đúng mà vẫn dễ hiểu.
– Đồ này là đồ cầm. – Anh ta nói. – Có người mang đến cầm, có biên nhận, ông chị giữ một nửa, người cầm giữ một nửa. Tiệm có nghĩa vụ trả cho người đã cầm khi người ấy đến chuộc. Còn cái máy ảnh trong gia đình họ thuộc về ai, người cầm có quyền mang đi cầm hay không, đấy là chuyện dân sự giữa những người trong gia đình họ. Nếu họ tranh chấp thì họ có quyền khởi kiện, toà án quyết định. Công an không tự lấy đồ từ tiệm chị đưa cho ai được, khi không có dấu hiệu tội phạm.
– Thế cái đơn này thì sao?
– Bên tôi ghi nhận, xác minh, trả lời người làm đơn theo đúng quy định. – Anh Thuận nói. – Và người làm đơn đề nghị được gặp chị. Ở đây, có công an chứng kiến. Sáng thứ Hai.
– Người làm đơn là ai ạ?
Anh Thuận mở hồ sơ ra lần nữa, lật đến trang cuối. Anh ta không đọc. Anh ta xoay tập hồ sơ lại, đẩy về phía cô, để cô tự đọc.
Một lá đơn đánh máy, hai trang, lời lẽ chặt chẽ, không thừa một chữ. Cuối trang hai là một chữ ký sắc, gọn, và tên người ký viết tay bên dưới, nét chữ in hoa nắn nót.
ĐINH HOÀNG DIỄM.
Khuê nhìn những con chữ in hoa ấy. Cô nghĩ đến tờ giấy luồn qua khe cửa đêm hai mươi chín tháng Mười. Cũng in hoa, cũng nắn nót.
Không giống. Cô nhìn kỹ hơn, và chắc chắn là không giống. Chữ trên lá đơn thẳng, đều, đặt bút xuống là dứt khoát. Chữ trên tờ giấy kia run, từng nét như bị kéo ra từ một bàn tay không nghe lời.
– Chị ấy bảo em chị ấy không có thói quen luồn giấy qua khe cửa. – Khuê nói, như nói với chính mình. – Chị ấy gửi thư có chữ ký.
– Chị nói gì?
– Không có gì. – Khuê đẩy tập hồ sơ lại. – Sáng thứ Hai, em sẽ đến.
— Hết chương 11 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe