AI Truyện
Bốn mươi năm chờ người chuộc

🏙️ Đô thị & làm giàu

Biên nhận số bốn trăm mười bảy

Bốn mươi năm chờ người chuộc · Chương 9/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 9: Biên nhận số bốn trăm mười bảy

– Đinh Quang Vĩ. – Bà Mẫn nói. – Con bà Mận nhà số bốn. Bây giờ chỗ ấy là cửa hàng bán đồ thờ, cháu đi qua chả để ý đâu.

Bà cầm chén chè lên, thổi, nhưng không uống.

– Bố nó là phóng viên ảnh, đi chiến trường, hy sinh năm bảy hai ở Quảng Trị. Đồng đội mang về cho nhà nó một cái ba lô. Trong ba lô có mấy bộ quần áo, một cuốn sổ tay, cái bút máy. Cái máy ảnh thì không phải mang về, nó ở nhà từ trước. Máy riêng của ông ấy, mua từ hồi mới đi làm báo, đi đâu cũng đeo, chỉ lần cuối cùng ấy là không mang. Thằng Vĩ lớn lên với cái máy ấy. Mười lăm tuổi nó đã chụp ảnh cưới cho cả phố. Hai mươi tuổi nó vào làm ở hiệu ảnh quốc doanh trên phố Tràng Tiền.

Khuê ngồi im. Con mèo Lãi từ nóc két nhảy xuống, đi vào kho, cọ người vào chân bà Mẫn. Bà để nó cọ, không đuổi, điều Khuê chưa thấy bà làm bao giờ.

– Năm tám mươi lăm, đổi tiền. – Bà Mẫn nói tiếp. – Nhà nào có tí tiền tiết kiệm cũng thành ra giấy lộn cả. Bà Mận ốm. Lao phổi, ho ra máu. Thuốc thì phải mua ngoài, giá cắt cổ. Thằng Vĩ chạy vạy khắp nơi. Rồi một sáng thứ Bảy, bà nhớ là thứ Bảy vì hôm ấy phố có phiên họp tổ, bà thấy nó đi vào tiệm ông cháu, trên vai đeo cái túi da.

Bà đặt chén chè xuống.

– Bà đang bày hàng, bà nhìn qua cửa. Nó đặt cái máy lên quầy. Ông cháu cầm lên, gõ hai cái lên mặt kính, như mọi lần ông ấy định giá đồ. Rồi ông ấy đặt xuống, nhìn thằng Vĩ rất lâu. Rồi ông ấy viết, rồi xé. Mỗi người một nửa. Thằng Vĩ cầm tiền đi luôn, không ngoảnh lại.

– Hai nghìn rưởi. – Khuê nói.

– Sao cháu biết?

– Cháu không biết. Cháu đoán. Trong cuốn sổ ông ghi, những món ông cho mượn tháng Tám, tháng Chín, nhiều nhất là mấy trăm đồng. Một cái máy ảnh của phóng viên thì phải gấp mấy lần. – Khuê nói, rồi dừng. – Cháu xin lỗi, bà kể tiếp đi ạ.

Bà Mẫn nhìn cô, lắc đầu.

– Giời ạ. Cái con bé này giống ông nó như đúc. Hai nghìn rưởi hay ba nghìn bà không biết. Bà chỉ biết là nhiều. Nhiều đến mức hôm sau bà hỏi ông cháu, ông cháu bảo: "Thì thuốc đắt."

Ngoài ngõ, ai đó kéo cửa sắt, tiếng sắt nghiến kéo dài. Bà Mẫn chờ cho tiếng ấy tắt hẳn.

– Mười ngày sau thì công an đến. – Bà nói. – Đêm ấy bà không ngủ. Nhà bà ở ngay đầu phố, bà nghe thấy hết. Người ta vào khám từ chín giờ. Bà nằm trên giường mà người cứ run lên, vì tháng Chín bà cũng sang nhà ông cháu cầm cái vòng bạc của mẹ bà. Bà nằm nghĩ, mai người ta gọi lên phường, bà biết ăn nói thế nào.

– Không ai gọi bà.

– Không ai gọi bà. Không ai gọi ai cả. – Bà Mẫn nói. – Ông Viêm nhà bà Lụa cầm cái đài, không bị gọi. Ông Khải đầu ngõ cầm cái xe đạp, không bị gọi. Nhà bà Tâm số bảy, nhà ông Thặng bán than, cái chị bán bún ốc… hai chục nhà, bà đếm được, không ai bị gọi. Cả phố thở ra. Ai cũng nghĩ mình may.

– Ông cháu cắt sáu tờ sổ. – Khuê nói. – Rồi đốt trong bếp than. Ông Lạp thấy tro.

– Bà biết. – Bà Mẫn nói. – Sáng hôm sau bà Nhu sang ngồi hàng bà, mắt sưng húp. Bà hỏi, bà ấy không nói. Bà ấy chỉ bảo "Ông nhà tôi cắt rồi, không ai việc gì đâu." Bà ấy nói đúng một câu thế, rồi uống chè, rồi về. Mười năm sau bà mới hiểu hết câu ấy.

Khuê nhìn xuống chén chè đã nguội trong tay mình.

Sáu cái cuống giấy nhô lên ở gáy sổ. Cô đã nhìn chúng như nhìn một sai sót trong hồ sơ, một khoảng trống cần giải trình. Cô đã nghĩ, nếu có nghĩ, rằng ông giấu một cái gì đó của ông. Cô chưa nghĩ ông giấu người khác.

– Thế sao phố lại đồn ông khai ạ?

Bà Mẫn không trả lời ngay. Bà cúi xuống xoa đầu con mèo, chậm rãi, như đang nghĩ cách đi qua một cái cầu khỉ.

– Cuối năm ấy. – Bà nói. – Bà Mận mất rồi. Mất đầu tháng Mười Hai. Đám ma xong được hai tuần, một buổi chiều Chủ nhật, thằng Vĩ đến tiệm. Nó đến chuộc cái máy.

Bà dừng lại.

– Bà không biết hai người nói gì. Bà đứng ở đầu phố, bà chỉ nghe thấy tiếng thằng Vĩ to lên. Rồi một tiếng choang.

Khuê quay đầu nhìn ra phía quầy. Từ trong kho, qua khung cửa, cô nhìn thấy góc trái mặt kính, chỗ con mèo vẫn hay nằm. Dưới ánh đèn đường hắt vào, lớp băng dính màu mật ong bóng lên như một vết sẹo đã lành.

– Nó đập tay xuống. – Bà Mẫn nói, nhìn theo ánh mắt cô. – Bằng cả nắm tay. Bà chạy đến thì thấy tay nó chảy máu, còn ông cháu đứng sau quầy, không nhúc nhích. Thằng Vĩ chạy ra giữa phố, chửi. Chửi to đến mức cả phố mở cửa sổ ra xem. "Lão Quyến khai tên tôi với công an! Lão nuốt cái máy của bố tôi!" Nó chửi thế đến khi khàn cả giọng.

– Ông cháu có cãi không?

– Không một câu.

– Sao lại không ạ?

– Bà không biết.

Bà Mẫn nói câu ấy quá nhanh. Khuê làm kiểm toán đủ lâu để biết những câu trả lời nhanh nhất thường là những câu đã được chuẩn bị sẵn từ lâu nhất.

– Bà biết. – Cô nói.

Bà Mẫn ngẩng lên. Hai người nhìn nhau qua làn hơi nước đã nhạt. Rồi bà Mẫn thở ra một hơi dài, dài đến mức cái khăn len trên vai bà xẹp xuống.

– Có một chuyện nữa. – Bà nói. – Ông cháu bắt bà thề. Bà thề rồi.

– Thề không nói với ai?

– Thề không nói với ai, kể cả người nhà ông ấy. – Bà Mẫn cầm cái phích lên, ôm vào lòng. – Bà bảy mươi mốt tuổi rồi, cháu ạ. Cả đời bà nói nhiều. Cái gì bà cũng nói. Có mỗi cái thề ấy là bà giữ. Cháu đừng bắt bà bỏ.

Khuê không bắt. Cô ngồi yên, nhìn bà cụ ôm cái phích nước hoa mẫu đơn bong sơn như ôm một đứa trẻ.

– Thế còn anh Vĩ ạ? Bây giờ anh ấy ở đâu?

– Thằng Vĩ. – Bà Mẫn lắc đầu. – Năm tám mươi bảy nó đi lao động bên Đông Đức. Thời ấy nhiều người đi lắm. Rồi bức tường đổ, nó ở lại bên ấy, không về. Có người bảo nó lấy vợ bên ấy. Có người bảo nó về nước rồi, làm ăn khấm khá. Bà thì thấy nó đúng một lần, cách đây mười lăm năm, ở đầu phố Hàng Bè. Nó già rồi, tóc lốm đốm. Nó nhìn bà. Bà nhìn nó. Rồi nó quay đi. Nó không bước sang phố này một bước nào nữa.

– Bà có nói với ông cháu không?

– Có. – Bà Mẫn nói. – Ông cháu nghe xong, ngồi im cả buổi chiều. Tối đấy ông ấy mở cái tủ.

Bà nhìn sang cái tủ gỗ nhỏ bên cạnh mình.

– Năm nào ông ấy cũng mở nó một lần. Ngày mười chín tháng Mười. Lau cái bọc, thay miếng nỉ, rồi khoá lại. Bốn mươi năm. – Bà Mẫn đứng dậy, đặt cái phích lên mặt bàn gấp. – Năm nay ông ấy không kịp.

Bà đi ra cửa bên. Đến ngưỡng cửa, bà quay lại.

– Cháu biết thế là đủ rồi. Ông cháu không khai ai. Cả phố này sai. Bà cũng sai, vì bà biết mà bà không nói. Ông ấy không cho bà nói.

– Sao ông không cho ạ?

– Vì ông ấy là ông cháu. – Bà Mẫn nói. – Hỏi thế mà cũng hỏi.

Rồi bà đi.

Sáng thứ Bảy, Khuê dậy sớm, kéo cửa cuốn lên lúc sáu rưỡi, rồi không mở tiệm. Cô khoá cửa, đi bộ dọc phố Hàng Phèn, từ đầu này đến đầu kia.

Con phố ngắn, chưa đến hai trăm bước chân. Cô đã đi trên nó hàng nghìn lần hồi nhỏ, đi học, đi mua bánh mì, đi theo ông ra hồ. Hôm nay cô đi chậm, nhìn từng cánh cửa.

Nhà số bảy, bây giờ là một hàng cà phê nhỏ, có cụ bà ngồi nhặt rau ở bậc cửa. Có thể là bà Tâm trong cuốn sổ. Có thể là con dâu bà Tâm. Đầu ngõ, cái nhà có bậc thềm đá mòn, chỗ ngày xưa ông Khải dựng xe. Nhà số bốn, cửa hàng đồ thờ, những cái lư đồng sáng loáng bày từ trong ra ngoài, không có dấu vết gì của một người phụ nữ ho ra máu vào mùa đông năm tám mươi lăm. Nhà bà Mẫn ở đầu phố, cái ấm nhôm đã sôi.

Hai chục nhà. Họ không biết vì sao họ thoát. Họ chỉ biết ít lâu sau, cả phố đồn ông Quyến khai.

Ở bậc cửa nhà số bảy, bà cụ nhặt rau ngẩng lên khi cô đi ngang. Bà chừng tám mươi, má hóp, mặc áo bông chần.

– Cháu ông Quyến đấy à? – Bà hỏi. – Bà là con dâu bà Tâm. Mẹ chồng bà mất mười năm rồi.

– Cháu chào bà ạ.

– Ông cháu tốt lắm. Năm nào mẹ chồng bà cũng mang sang biếu ông ấy cân chè. – Bà cụ bẻ một cọng rau muống, nhặt bỏ lá úa. – Mà cụ ấy lúc gần mất vẫn còn bảo: "Ông Quyến tốt thì tốt, nhưng năm ấy lão khai cả phố." Bà bảo mẹ ơi, nhà mình có ai bị gọi đâu. Cụ bảo: "Thì nhà mình may."

Bà cụ cười, lắc đầu, rồi lại cúi xuống rổ rau.

Khuê đứng thêm một lúc, rồi đi tiếp. Nhà mình may. Bốn mươi năm, cả một con phố nghĩ rằng mình may, và nghĩ rằng người làm cho mình may là kẻ khai báo.

Một chiếc xe đạp chở hoa chạy ngang qua cô, hai cái sọt tre hai bên đầy cúc hoạ mi trắng. Người bán hoa là một chị trẻ, đội nón lá, đạp chậm, cất tiếng rao không thành lời. Mùa cúc hoạ mi đã về. Năm nào cũng chỉ vài tuần.

Khuê gọi chị ấy dừng lại, mua một bó.

Cô mang bó hoa lên tầng hai, cắm vào cái lọ sứ trên bàn thờ ông. Di ảnh ông là tấm chụp năm ông tám mươi tuổi, tóc bạc trắng, mặt gầy, đôi mắt vẫn ánh lên như vừa nghe một câu đùa. Cô thắp ba nén hương, đứng nhìn ông.

Cô không nói gì. Ông không thích người ta nói nhiều trước bàn thờ. Ông bảo người chết không điếc, nói một lần là đủ.

Cô chỉ nói một câu.

– Cháu biết rồi ông ạ.

Khói hương bay thẳng lên, rồi gặp gió từ cửa sổ, tạt ngang.

Mười giờ, cô mở tiệm. Mười giờ mười lăm, điện thoại cô reo. Số lạ, đầu số di động Hà Nội.

– Alô, chị Khuê phải không? Tiệm cầm đồ số mười một Hàng Phèn?

Giọng đàn ông, chừng bốn mươi, hơi khàn, nói nhanh.

– Vâng, tôi đây.

– Tôi có nửa tờ biên nhận. – Người đàn ông nói. – Số bốn trăm mười bảy. Năm tám mươi lăm. Tôi muốn đến chuộc đồ.

Khuê đứng im. Sau lưng cô, trong kho, cái tủ gỗ nhỏ vẫn khoá. Trên cổ cô, sợi dây đỏ cứa nhẹ vào da.

Con mèo Lãi ngồi trên nóc két, nhìn cô, cái đuôi đứng yên.

— Hết chương 9 —

Mục lục Bốn mươi năm chờ người chuộc

  1. 1Ông có lên dây cho cái đồng hồ không?11 phút
  2. 2Chậm hai phút12 phút đọc
  3. 3Giấy phép mang tên người đã mất11 phút đọc
  4. 4Bộ ấm của mẹ10 phút đọc
  5. 5Cây đàn đi về mỗi tuần11 phút đọc
  6. 6Bà chủ Mái Ngói10 phút đọc
  7. 7Người chơi cờ ven hồ10 phút đọc
  8. 8Tro trong bếp than10 phút đọc
  9. 9Biên nhận số bốn trăm mười bảy10 phút đọc
  10. 10Nửa tờ giấy pơ-luya11 phút đọc
  11. 11Tấm huân chương không cầm10 phút đọc
  12. 12Ông Đoái đứng gác11 phút đọc
  13. 13Chiếc váy cưới hai lần10 phút đọc
  14. 14Tiền cọc10 phút đọc
  15. 15Sân thượng Mái Ngói10 phút đọc
  16. 16Ông Viêm nhớ một người11 phút đọc
  17. 17Đêm Noel phố Nhà Chung10 phút đọc
  18. 18Người ngồi xe lăn11 phút đọc
  19. 19Hai nửa tờ biên nhận12 phút đọc
  20. 20Chiếc khánh bạc10 phút đọc
  21. 21Năm 1985 của người khác12 phút đọc
  22. 22Video của thằng Tũn12 phút đọc
  23. 23Bộ ấm về nhà10 phút đọc
  24. 24Chữ học trò11 phút đọc
  25. 25Cái máy khâu ở Hàng Gai12 phút đọc
  26. 26Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  27. 27Bà Mẫn nằm viện10 phút đọc
  28. 28Tết chuộc đồ11 phút đọc
  29. 29Đoàn viên mười bảy tuổi11 phút đọc
  30. 30Lời thề với bà Mẫn10 phút đọc
  31. 31Bố đi hồ Tây11 phút đọc
  32. 32Những người được che11 phút đọc
  33. 33Hai nửa khớp nhau12 phút đọc
  34. 34Hai mươi mốt kiểu ảnh12 phút đọc
  35. 35Rằm tháng Giêng11 phút đọc
  36. 36Bảy giờ sáng10 phút đọc

Về truyện này

Bốn mươi năm chờ người chuộc là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →