Chương 16: Ông Viêm nhớ một người
Chiều Chủ nhật, bốn giờ, Khuê không đi hồ Tây.
Cô đã nghĩ về chuyện ấy suốt từ đêm thứ Bảy. Cô biết chỗ. Lâm đã tả: một viện dưỡng lão bên hồ Tây, sân rộng nhìn ra nước, chiều Chủ nhật bốn giờ đến, sáu giờ về. Cô có thể đi xe ôm mười lăm phút là tới. Cô có thể đứng ở bờ hồ, giả vờ ngắm cảnh, nhìn một người phụ nữ mặc áo vest đẩy xe lăn cho một ông cụ tay run.
Nhưng đi thế là rình. Sáu năm kiểm toán, cô đã ngồi trong những phòng họp nơi người ta trình ra ảnh chụp lén, ghi âm lén, những thứ đúng là bằng chứng nhưng làm người cầm nó bẩn tay. Ông không bao giờ rình ai. Ông ngồi sau cái quầy kính bốn mươi năm, người ta tự đến.
Cho nên bốn giờ chiều Chủ nhật, cô ngồi ở tiệm, và người tự đến là bà Lụa.
Bà dắt ông Viêm. Hai ông bà đi bộ từ cuối phố Hàng Vải sang, chậm, ông Viêm chống một cái gậy ba chân, bà Lụa khoác tay ông, cái làn đỏ treo trên cánh tay kia. Ông Viêm mặc áo bành tô dạ màu nâu, quàng khăn len, đội mũ phớt, trông như một ông giáo đi dự lễ khai giảng của thập niên tám mươi.
– Ông ấy đòi sang. – Bà Lụa nói, hơi thở phả khói trắng. – Sáng nay ông ấy nhìn đồng hồ, bảo "Chủ nhật rồi". Bà bảo ông Quyến mất rồi. Ông ấy bảo "Thì cháu ông ấy". Ông ấy nhớ cháu đấy.
Khuê mở cửa bên, kéo cái ghế mây của ông ra, đặt ở chỗ có nắng chiều chiếu vào. Ông Viêm ngồi xuống, đặt cái gậy dựa vào quầy, rồi cởi cái đồng hồ trên cổ tay ra, đặt lên mặt kính, đẩy về phía cô.
Không nói gì. Chỉ đẩy.
Khuê cầm cái đồng hồ lên. Kim chỉ bốn giờ mười. Đồng hồ trên điện thoại cô chỉ bốn giờ tám. Mấy tuần nay ông Viêm tự lên dây ở nhà, tự chỉnh theo đài, nhưng đồng hồ cơ cũ chạy lệch là thường, cứ nhanh dần lên từng chút.
Cô kẹp đồng hồ giữa ngón cái và ngón trỏ tay trái, tay phải xoay núm đi tới, không xoay ngược, đếm thầm. Đến ba mươi thì núm căng. Cô dừng, không cố. Rồi cô kéo núm ra, chỉnh kim.
Cô nhìn điện thoại. Bốn giờ tám phút. Cô chỉnh kim về bốn giờ sáu phút.
Chậm hai phút.
Cô ấn núm vào, đặt đồng hồ lên mặt kính, đẩy về phía ông Viêm.
Ông Viêm cầm lên, áp vào tai nghe tiếng tích tắc. Rồi ông nhìn mặt đồng hồ. Rồi ông móc trong túi áo bành tô ra một cái đài bán dẫn nhỏ bằng bao thuốc lá, bật lên, dò kênh, chờ. Bà Lụa ngồi xuống cái ghế đẩu, rót chè, không nói gì, như người đã ngồi xem cảnh này hàng trăm lần.
Năm giờ, đài phát những tiếng tít báo giờ.
Ông Viêm nhìn đồng hồ. Ông nhíu mày. Ông kéo núm ra, vặn kim lên hai phút, ấn vào. Rồi ông đeo đồng hồ lại lên cổ tay, cài khoá, xoay mặt đồng hồ vào chính giữa.
– Chậm hai phút. – Ông nói, gật gù, rất hài lòng. – Đúng là cháu ông Quyến.
Bà Lụa quay mặt đi, lấy vạt áo chấm vào khoé mắt.
Khuê không nói gì. Cô rót cho ông Viêm một chén chè. Ông cầm lên uống, chép miệng, nhìn quanh tiệm. Mắt ông dừng lại ở chỗ cầu thang, cái chiếu nghỉ nhỏ ở lưng chừng, nơi có ô cửa sổ nhìn xuống gian tiệm.
– Thằng Vĩ hay đứng chỗ kia. – Ông nói.
Khuê đặt ấm chè xuống.
– Ông nói gì ạ?
– Thằng Vĩ. Con bà Mận. Thằng thợ ảnh. – Ông Viêm chỉ tay lên chiếu nghỉ. Giọng ông rõ ràng, chậm, như giọng thầy giáo giảng bài. – Nó hay đứng chỗ kia chụp ông Quyến. Từ trên chụp xuống. Ông Quyến cúi xuống sửa đồng hồ, nó bảo đừng ngẩng lên, cứ làm đi. Ông Quyến bảo mày chụp cái đỉnh đầu tao làm gì. Nó bảo đỉnh đầu bác có xoáy đẹp.
Bà Lụa quay lại, nhìn chồng, mắt mở to.
– Ông nhớ à?
– Nhớ chứ. – Ông Viêm nói, hơi bực. – Bà tưởng tôi lẫn à?
– Ông lẫn mà.
– Cái gì lẫn thì lẫn. – Ông Viêm nói. – Cái này không lẫn.
Ông uống thêm một ngụm chè. Khuê ngồi xuống ghế nhựa, sát bên ông, không dám nói to, sợ làm vỡ cái gì đó đang mở ra trong đầu ông cụ.
– Ông ơi, năm tám mươi lăm, ông có cầm đồ ở nhà ông cháu không ạ?
– Cái đài. – Ông Viêm nói ngay. – Cái đài bán dẫn của Liên Xô, to bằng viên gạch. Tháng Chín. Đổi tiền, lương tôi không đủ mua sữa cho con bé. Tôi cầm cái đài.
– Ông chuộc lại lúc nào ạ?
– Tôi không chuộc.
Khuê ngẩng lên.
– Tôi không chuộc. – Ông Viêm nhắc lại. – Ông Quyến mang sang trả tôi. Tháng Mười Một. Mang tận nhà. Tôi đưa tiền, ông ấy không lấy. Ông ấy bảo: "Sổ cháy rồi, không ai nợ ai nữa." Tôi hỏi cháy thế nào. Ông ấy bảo chuột gặm. Tôi bảo chuột gặm thì làm sao cháy. Ông ấy cười. Ông ấy bảo thì chuột nó gặm xong nó đốt.
Bà Lụa đặt chén chè xuống, nhìn Khuê.
– Bà không biết chuyện này. – Bà nói. – Năm ấy bà đưa con bé về quê ngoại ở cữ, ông ấy ở nhà một mình. Bà về thì cái đài đã ở trên bàn rồi. Bà cứ tưởng ông ấy chuộc.
– Không phải chuộc. – Ông Viêm nói. – Ông Quyến trả. Không lấy tiền. Rồi mấy tuần sau cả phố bảo ông ấy khai. Tôi bảo khai cái gì, ông ấy trả tôi cái đài không lấy tiền, khai cái gì. Không ai nghe tôi. Tôi là thầy giáo, tôi nói to được trên lớp, ra phố tôi không nói to được.
Ông im lặng một lúc, nhìn cái đồng hồ trên cổ tay.
– Thằng Vĩ đứng giữa phố chửi. – Ông nói, giọng nhỏ đi. – Tôi đứng trên ban công nghe. Tôi muốn xuống bảo nó im đi. Tôi không xuống.
– Ông có biết bây giờ anh Vĩ ở đâu không ạ?
Ông Viêm nhìn cô. Ánh mắt ông bắt đầu trôi đi, như con thuyền đã tháo dây neo. Khuê thấy rõ cái khoảnh khắc ấy, giống như khoảnh khắc Lâm nhớ ra ông đã mất. Cô biết mình còn ít thời gian.
– Cái Lài. – Ông Viêm nói. – Em thằng Vĩ. Nó học tôi lớp mười. Học dốt vật lý mà vẽ đẹp. Nó lấy chồng bên Bát Tràng, làm gốm. Năm nào nó cũng gửi tôi một cái cốc, Ngày Nhà giáo. Năm nay chưa thấy.
Rồi ông quay sang bà Lụa.
– Mình ơi, ông Quyến đâu?
– Ông Quyến bận. – Bà Lụa nói, nhanh như đã quen. – Mình uống chè đi.
Ông Viêm gật đầu, uống chè, nhìn ra phố, nơi nắng chiều đang tắt dần trên những mái ngói.
Thứ Năm, mười tám tháng Mười Hai, Khuê và thằng Tũn đi xe máy sang Bát Tràng.
Tũn chở. Nó đội cái mũ bảo hiểm có hai cái tai mèo, đi qua cầu Chương Dương với tốc độ của một người đang trốn mẹ. Gió sông thổi lạnh buốt, Khuê kéo khăn lên tận mũi, ngồi sau bám chặt vào áo phao của nó.
– Chị ơi, sao mình không gọi điện? – Tũn hét qua vai.
– Không có số.
– Thế sao chị biết bà ấy ở đâu?
– Bà Mẫn hỏi một vòng các bà bán hàng ở chợ Đồng Xuân. Một bà có em họ làm gốm ở Bát Tràng. Em họ bà ấy biết một bà tên Lài, bán cốc chén ở chợ gốm, có anh trai đi Đức.
– Kinh khủng. – Tũn nói. – Mạng lưới của bà Mẫn còn mạnh hơn mạng xã hội.
Chợ gốm Bát Tràng sáng thứ Năm vắng khách. Những gian hàng nối nhau, bày đủ thứ bát đĩa, bình hoa, chum vại, cốc in hình. Mùi đất nung, mùi men, mùi khói lò. Khách du lịch lác đác, có mấy đứa trẻ đang ngồi nặn đất ở một xưởng mở. Tũn đỗ xe, hai chị em đi dọc các gian hàng, hỏi.
Bà Lài ngồi ở gian hàng cuối dãy, gian nhỏ nhất, bày toàn cốc. Cốc men lam, cốc men nâu, cốc vẽ tay hoa sen, hoa đào. Bà chừng sáu mươi, gầy, tóc cắt ngắn ngang vai, đeo kính, đang ngồi vẽ hoa lên một cái cốc mộc bằng cây bút lông nhỏ. Tay bà vững, nét vẽ mảnh và đều.
– Cháu chào bác. Bác có phải bác Lài không ạ?
Bà Lài ngẩng lên, nhìn hai chị em qua cặp kính.
– Phải. Mua cốc à?
– Cháu là cháu nội ông Quyến. Tiệm cầm đồ phố Hàng Phèn.
Cây bút lông dừng lại giữa một cánh hoa. Một giọt men lam nhỏ xuống cái cốc, loang ra thành một chấm tròn không ai cố ý.
Bà Lài nhìn chấm men ấy rất lâu. Rồi bà đặt bút xuống, đặt cái cốc xuống, tháo kính ra lau, đeo vào lại.
– Ông Quyến mất rồi. – Bà nói. – Tôi biết. Con bé nó bảo tôi.
– Con bé nào ạ?
Bà Lài không trả lời. Bà đứng dậy, kéo hai cái ghế đẩu nhựa ra cho hai chị em ngồi, rót nước trà từ cái phích ra hai cái cốc men nâu.
– Cháu tìm thằng Vĩ à?
– Vâng ạ.
– Nó không gặp cháu đâu.
– Cháu biết. – Khuê nói. – Cháu chỉ muốn hỏi bác vài chuyện.
Bà Lài ngồi xuống, hai bàn tay ôm cái cốc trà. Bàn tay ấy dính men lam ở móng, những vết lam nhạt đã ăn vào da, như ông Viêm có vết chai ở ngón tay, như Lâm có vết chai ở đầu ngón.
– Thằng Vĩ cấm tôi nhắc tên ông Quyến. – Bà nói. – Bốn mươi năm. Nhắc là nó đứng dậy đi.
– Bác có tin ông cháu khai báo không ạ?
Bà Lài nhìn ra ngoài gian hàng, nơi có mấy đứa trẻ đang chạy đuổi nhau giữa những chồng bát.
– Năm chín mươi, ông Quyến tìm đến nhà tôi. – Bà nói. – Ông ấy hỏi địa chỉ thằng Vĩ bên Đức. Tôi không muốn cho. Ông ấy đứng ở cửa nhà tôi cả buổi chiều, không vào, không đi. Cuối cùng tôi cho. Ông ấy viết thư. Ba lá. Thằng Vĩ gửi trả về cả ba, không bóc. Nó gửi qua tôi, bảo tôi trả lại ông ấy. Tôi mang trả. Ông ấy cầm ba lá thư, đứng ở cửa tiệm, không nói gì, rồi cất đi.
Khuê ngồi im. Ba lá thư. Cô chưa từng thấy ba lá thư nào trong nhà ông.
– Người khai báo thì không đứng cả buổi chiều xin địa chỉ để viết thư. – Bà Lài nói. – Tôi nghĩ thế. Nhưng tôi không bao giờ nói với thằng Vĩ là tôi nghĩ thế. Nó là anh tôi. Mẹ tôi chết trong tay nó. Nó tin cái gì thì tôi để nó tin cái đấy.
– Bây giờ anh Vĩ ở đâu ạ?
Bà Lài nhìn cô một lúc lâu.
– Nó về nước từ năm hai nghìn lẻ năm. Mở nhà nghỉ. Vợ nó bỏ nó ở bên Đức. Nó có một đứa con gái.
Bà ngừng lại. Rồi, như người đã quyết định nhảy qua một con mương, bà nói nốt:
– Con gái nó làm khách sạn. Ngay phố cháu.
Tũn quay sang nhìn Khuê. Khuê không quay lại. Cô nhìn bà Lài.
– Cháu biết ạ. – Cô nói.
Bà Lài gật đầu, như không ngạc nhiên.
– Thế thì cháu biết cả chuyện này chưa. – Bà nói. – Thằng Vĩ bây giờ đi lại khó lắm, tay run, chữ viết không thành chữ. Vậy mà đêm hai mươi chín tháng Mười vừa rồi, nó bắt con bé đưa nó về phố Hàng Phèn. Nửa đêm. Con bé không cho, nó tự gọi xe đi. Con bé phải chạy theo.
Khuê thấy tay mình lạnh đi, dù cái cốc trà vẫn còn ấm.
– Bác có biết anh ấy về làm gì không ạ?
– Nó không nói. – Bà Lài cầm cây bút lông lên, nhìn chấm men lam loang trên cái cốc dở. – Con bé bảo nó ngồi trong xe, ngoài đầu phố, rất lâu. Rồi nó xuống xe, tự đi bộ vào phố, không cho ai đỡ. Mười phút sau nó quay ra, ngồi vào xe, không nói một câu nào, cả đường về.
— Hết chương 16 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe