Chương 7: Người chơi cờ ven hồ
– Bình chữa cháy chị mua loại nào?
Trung uý Thuận đứng giữa tiệm, tay cầm cái bút bi, cúi xuống nhìn hai cái bình đỏ dựng ở chân quầy như nhìn hai nghi phạm.
– Loại bột, bốn ký. – Khuê nói. – Hạn kiểm định đến năm hai mươi tám. Hoá đơn em kẹp trong hồ sơ, trang thứ ba.
– Tôi thấy rồi. – Anh ta ghi vào sổ. – Phương án phòng cháy?
– Trang thứ năm. Lối thoát nạn là cửa chính và cầu thang lên sân thượng, sân thượng thông sang mái nhà số chín. Em đã hỏi nhà số chín, họ đồng ý không khoá cửa sắt.
Anh Thuận ngẩng lên nhìn cô. Cái nhìn ấy Khuê đã quen từ hồi đi làm: nhìn một người nộp hồ sơ mà không bắt được lỗi nào.
Thứ Hai vừa rồi, cô đã ngồi bốn tiếng ở bộ phận một cửa của phường để đăng ký hộ kinh doanh đứng tên mình. Rồi cô nộp bộ hồ sơ xin giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Hôm nay, thứ Tư, anh Thuận xuống kiểm tra thực tế cơ sở. Anh ta đi một vòng quanh tiệm, đo mắt từ cửa vào kho, gõ thử vào két sắt, nhìn lên cái công tắc điện cũ, ghi chép. Đi đến đâu, anh ta cũng liếc về phía con mèo Lãi trước.
Con mèo nằm trên nóc két, giả vờ ngủ, đuôi đập nhè nhẹ.
– Nó đang giả vờ đấy. – Khuê nói.
– Tôi biết.
– Sao anh biết?
– Đuôi nó động. – Anh Thuận nói, mắt không rời sổ. – Ngủ thật thì đuôi không động.
– Anh nghiên cứu mèo à?
– Tôi nghiên cứu những gì có thể nhảy vào mặt tôi.
Thằng Tũn ngồi ở bàn gấp trong kho, đang chụp từng trang sổ thu chi của ông bằng điện thoại, phì cười một tiếng to, rồi vội giả vờ ho.
Anh Thuận ghi thêm mấy dòng, rồi gập sổ lại.
– Cơ sở đạt. Hồ sơ đủ. Tôi báo cáo lên. Còn lại thì chờ.
– Chờ bao lâu?
– Tôi không hứa được ngày. – Anh ta nói, rồi ngừng một chút. – Nhưng hồ sơ của chị là bộ dễ đọc nhất tôi gặp năm nay.
Khuê không biết câu ấy là lời khen hay là lời than. Cô quyết định coi là lời khen.
Anh ta đi ra đến cửa thì cô gọi lại.
– Anh Thuận. Phường mình ngày xưa, những năm tám mươi, có ai làm công an mà bây giờ còn sống không?
Anh Thuận đứng lại ở ô cửa, quay nửa người.
– Chị hỏi để làm gì?
– Ông em làm nghề này từ những năm ấy. Em muốn biết ngày xưa phố mình thế nào.
Đó là một nửa sự thật. Anh Thuận nhìn cô, cái nhìn ấy lại là cái nhìn của người đọc hồ sơ, và lần này anh ta có vẻ đã bắt được một lỗi. Nhưng anh ta không nói ra.
– Có chú Lạp. – Anh ta nói. – Bạch Văn Lạp. Ngày xưa làm ở công an phường cũ, sau chuyển lên trên, về hưu lâu rồi. Thỉnh thoảng chú ấy vẫn ghé đơn vị uống nước. Sáng nào chú cũng đánh cờ ở vườn hoa ven hồ, gần bến xe buýt.
– Cảm ơn anh.
– Chú ấy khó tính. – Anh Thuận nói thêm. – Đánh thua là không nói chuyện với ai cả buổi.
Anh ta đi rồi, thằng Tũn mới ngẩng lên khỏi cái điện thoại.
– Chị Khuê ơi, anh công an ấy thích chị đấy.
– Làm việc đi.
– Thật. Anh ấy bảo hồ sơ của chị dễ đọc nhất năm. Với công an, đấy là tỏ tình đấy chị.
Khuê ném cho nó một cuộn băng dính. Tũn bắt được, cười hì hì, rồi giơ điện thoại lên.
– Mà chị xem cái này. Em xử lý tấm ảnh chị chụp hôm thứ Bảy.
Cô đã gửi cho nó tấm ảnh chụp lén trong văn phòng Diễm, nhờ nó làm rõ. Cô không kể ảnh ấy ở đâu ra. Tũn cũng không hỏi. Nó là đứa trẻ thời này, với nó mọi tấm ảnh đều từ trên mạng mà ra.
Trên màn hình, tấm ảnh đã được kéo thẳng lại, chỉnh sáng, làm nét. Gương mặt ông Quyến hồi bốn mươi tư tuổi hiện ra rõ đến mức Khuê phải nhìn ra cửa một lúc rồi mới nhìn lại được.
– Không phải cái này. – Tũn nói. Nó dùng hai ngón tay phóng to vào mặt kính quầy. – Chị nhìn chỗ này.
Trên mặt kính, ngoài vệt sáng chạy chéo, có một hình phản chiếu mờ mờ. Một cái bóng người, đứng ngay trước quầy, cầm một vật gì đó ngang tầm mắt. Không thấy mặt. Chỉ thấy cái vành mũ, cái vai áo, và giữa hai bàn tay là một vật tròn nhô ra, cỡ cái chén.
– Người chụp. – Tũn nói. – Đứng sát quầy luôn. Chụp gần thế mà ông vẫn nhìn thẳng vào máy, không ngại. Chắc quen nhau, chị ạ.
Khuê nhìn cái vật tròn giữa hai bàn tay trong bóng phản chiếu. Cô nghĩ đến cái bọc vải dầu trong tủ, đến cái chỗ lồi tròn ở một đầu.
– Tũn này. – Cô nói. – Đừng gửi ảnh này cho ai nhé.
– Em có gửi cho ai đâu. Mà ai thế chị?
– Chị cũng đang muốn biết.
Sáng thứ Năm, Khuê đi bộ ra hồ.
Bảy giờ sáng, vườn hoa ven hồ đã có người tập thể dục, có những bà cụ múa quạt theo nhạc phát từ một cái loa kéo, có một nhóm người già đi giật lùi quanh bồn hoa. Ở góc gần bến xe buýt, dưới tán một cây sấu già, có ba bàn cờ tướng kê trên những cái ghế đá. Mỗi bàn hai người chơi, năm sáu người đứng xem, ai cũng có ý kiến.
Khuê nhận ra ông Lạp ngay mà không cần hỏi.
Ông ngồi ở bàn giữa, lưng thẳng như cột nhà, tóc bạc cắt ngắn sát da đầu, mặc áo len cổ lọ màu ghi, đi giày da đen bóng như sắp đi họp. Sau tai trái ông giắt một điếu thuốc lá chưa châm. Ông cầm quân cờ bằng ba ngón tay, đặt xuống bàn đánh "cạch" một tiếng rõ to, rồi khoanh tay nhìn đối thủ như nhìn một người đang khai gian.
Đối thủ của ông là một ông cụ nhỏ thó, đội mũ phớt, đang cười tủm tỉm.
– Chiếu. – Ông cụ mũ phớt nói, nhẹ nhàng đẩy một con xe lên.
Ông Lạp nhìn bàn cờ. Mấy người đứng xem im phăng phắc. Một giây. Hai giây. Ông Lạp rút điếu thuốc sau tai ra, cầm lên, rồi giắt lại vào chỗ cũ.
– Thua. – Ông nói.
Ông đứng dậy, phủi quần, không nói thêm một chữ. Những người đứng xem tản ra, như đã biết lệ.
Khuê đi theo ông ra phía bờ hồ. Ông đứng dựa vào lan can, nhìn ra mặt nước. Hôm nay trời hơi lạnh, mặt hồ có một lớp sương mỏng, Tháp Rùa chỉ còn là một cái bóng xám.
– Cháu chào ông.
Ông Lạp không quay lại.
– Thua cờ thì đừng ai nói chuyện với tôi.
– Cháu không nói chuyện cờ. Cháu là cháu nội ông Quyến, tiệm cầm đồ phố Hàng Phèn.
Ông Lạp quay lại. Rất chậm. Ông nhìn cô từ đầu đến chân, như ngày xưa hẳn ông đã nhìn những người bị gọi lên phường.
– Ông Quyến mất rồi.
– Vâng. Tháng Chín ạ.
– Tôi có biết. Tôi không đến. – Ông nói. – Tôi với ông ấy không thân.
– Cháu muốn hỏi ông về năm tám mươi lăm.
Ông Lạp nhìn cô thêm một lúc. Rồi ông quay lại nhìn mặt hồ.
– Chuyện công vụ bốn mươi năm trước, tôi không nói.
– Cháu không hỏi công vụ. Cháu hỏi ông cháu.
– Ông cháu thì cháu đi mà hỏi người nhà cháu.
– Người nhà cháu không ai nói.
Ông Lạp im lặng. Một con chim bói cá lao xuống mặt nước gần bờ, rồi vút lên, không bắt được gì. Ông rút điếu thuốc ra, lần này châm thật, rít một hơi dài.
– Cháu về đi. – Ông nói. – Tôi già rồi, tôi không nhớ gì đâu.
Khuê đứng thêm một lúc. Rồi cô quay về phía mấy bàn cờ. Bàn giữa bây giờ trống, ông cụ mũ phớt đã sang bàn bên xem người khác đánh. Bàn cờ vẫn còn nguyên thế cờ ông Lạp vừa thua.
Cô ngồi xuống chỗ của ông cụ mũ phớt, xếp lại quân cờ về vị trí ban đầu. Quân đỏ về phía cô. Quân đen về phía cái ghế trống.
Hồi cô bảy tuổi, những buổi trưa vắng khách, ông bày bàn cờ lên mặt quầy kính, ngay cạnh vết nứt chân chim, dạy cô đánh cờ tướng. Ông chỉ dạy đúng một kiểu khai cuộc. Nước đầu tiên, bao giờ cũng thế: pháo đầu, nhưng không đặt vào giữa mà lệch sang trái một nước, kiểu không ai đánh, đánh vào là thiệt. Cô hỏi sao lại đánh thế, ông bảo: "Để người ta tưởng mình dốt. Người ta tưởng mình dốt thì người ta nói thật."
Cô cầm quân pháo đỏ, đặt nó lệch sang trái một nước. Đánh "cạch" một tiếng.
Rồi cô ngồi chờ.
Mười phút. Mười lăm phút. Mấy ông cụ ở bàn bên liếc sang, có người lắc đầu, có người cười. Một người bảo "con bé này đánh pháo kiểu gì thế". Khuê không nhìn họ. Cô nhìn mặt hồ, nhìn bóng Tháp Rùa đang dần rõ ra khi sương tan.
Có một cái bóng đổ lên bàn cờ.
Ông Lạp đứng đó, điếu thuốc đã tắt, hai tay chắp sau lưng, nhìn xuống con pháo lệch.
– Ai dạy cháu nước này?
– Ông cháu ạ.
Ông Lạp nhìn con pháo rất lâu. Rồi ông ngồi xuống cái ghế trống bên kia bàn, cầm con mã đen, đặt xuống. "Cạch."
Họ đánh hai mươi phút. Khuê thua. Cô biết mình sẽ thua, ông chỉ dạy cô một kiểu khai cuộc, chưa bao giờ dạy cô phải làm gì sau đó. Nhưng ông Lạp đánh chậm, chậm hơn hẳn lúc nãy, có những nước ông cầm quân lên, ngắm nghía, rồi đặt xuống chỗ khác.
– Chiếu. Hết. – Ông nói cuối cùng.
– Cháu thua ạ.
– Ừ. – Ông Lạp nhặt từng quân cờ, xếp vào hộp. – Năm tám mươi lăm, ông cháu cũng đánh với tôi cái nước pháo lệch này. Ngay trên cái quầy kính nhà cháu. Đêm hôm ấy.
Khuê ngồi yên.
– Đêm nào ạ?
Ông Lạp đóng nắp hộp cờ. Ông nhìn ra mặt hồ, nơi Tháp Rùa bây giờ đã hiện rõ, rêu xanh trên những bậc gạch cũ.
– Tôi hai mươi tám tuổi. Đi khám nhà một người cho vay lấy đồ, vì có thư tố giác. Khám xong, không tìm được gì ra hồn, mấy đồng chí khác về trước, tôi ở lại lập biên bản. Ông cháu pha cho tôi ấm chè, bày bàn cờ ra, bảo đánh một ván cho đỡ buồn ngủ. Ông ấy đánh nước pháo lệch, tôi tưởng ông ấy dốt.
Ông ngừng lại. Điếu thuốc trên tay ông đã tắt từ lâu.
– Lúc ra về, tôi đi qua cái bếp than sau nhà. Bếp còn đỏ. Trong bếp toàn tro giấy.
Ông Lạp đứng dậy, kẹp hộp cờ vào nách.
– Đêm ấy tôi thấy ông cụ nhà cháu đốt giấy. – Ông nói. – Tôi không ghi vào biên bản.
— Hết chương 7 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe