Chương 20: Chiếc khánh bạc
Đứa bé ho trước khi mẹ nó kịp nói câu nào.
Một tràng ho khan, nhỏ, dồn dập, từ trong cái địu vải hoa trước ngực người phụ nữ đứng ở ô cửa. Người phụ nữ cúi xuống, vỗ vỗ lưng con qua lớp địu, miệng "ơ ơ" như ru. Đứa bé nín. Rồi chính người mẹ ho, quay mặt đi, ho vào khuỷu tay áo.
Sáng thứ Bảy, ba tháng Một. Trời rét ngọt, nắng hanh, mặt kính quầy lạnh như mặt nước giếng. Khuê đang lau quầy thì thấy hai mẹ con.
– Chị ơi, chị xem giúp em cái này cầm được bao nhiêu.
Chị ta đặt lên mặt kính một cái túi gấm đỏ nhỏ bằng bao diêm. Trong túi là một cái khánh bạc, loại khánh người ta đeo cho trẻ con đầy tháng, hình cái chuông dẹt, mặt trước chạm hai chữ "Bình an", mặt sau chạm một con cá chép. Sợi dây bạc mảnh, móc khoá đã mòn.
Khuê không cầm lên ngay. Cô nhìn người mẹ trước. Chị ta chừng hai tư, hai lăm, gầy, má đỏ ửng vì gió, áo khoác lông vũ cũ cài lệch cúc. Đứa bé trong địu đội mũ len có hai cái tai gấu, chỉ thò ra một khuôn mặt đỏ lựng và hai con mắt đen láy nhìn Khuê không chớp.
– Cháu mấy tháng rồi chị?
– Mười một tháng ạ.
– Cháu ốm à?
– Dạ, viêm phế quản. – Người mẹ nói. – Bác sĩ bảo nằm viện mấy hôm. Hôm qua em đưa cháu đi khám, bác sĩ kê đơn, bảo về chuẩn bị đồ thứ Hai vào nằm. Em cần ít tiền.
– Chị cần bao nhiêu?
– Hai triệu ạ.
Khuê cầm cái khánh lên. Cô gõ nhẹ nó hai cái lên mặt quầy, như ông vẫn làm, nghe tiếng. Tiếng bạc trong, ngắn. Cô đặt nó lên cái cân tiểu ly của ông. Hai đồng cân rưỡi. Bạc thật, nhưng hai đồng cân rưỡi bạc thì không đáng tới một triệu, kể cả tính công chạm.
Ở góc phố, hàng chè bà Mẫn vừa nhóm bếp, khói than tổ ong bay lên thành một dải xám mỏng.
– Chị ngồi đã. – Khuê mở cửa bên, kéo cái ghế nhựa ra. – Cho cháu vào trong cho ấm.
Người mẹ ngồi xuống, nới cái địu cho con dễ thở. Đứa bé quay đầu nhìn quanh, thấy con mèo Lãi trên nóc két, hai mắt sáng lên. Nó giơ một bàn tay mũm mĩm về phía con mèo, ê a. Lãi nhìn nó, rồi nhìn Khuê, như hỏi cái sinh vật kia có được phép ở đây không.
– Chị tên gì ạ?
– Ngân. Diệp Thị Ngân. Cháu tên Mít.
– Bố cháu đâu chị?
– Anh ấy làm công trình trong Nam. Tết mới về. – Ngân nói. – Em ở trọ trong ngõ chợ, bán hàng rong. Mấy hôm nay cháu ốm, em không đi bán được.
Khuê gật đầu. Cô đã định hỏi tiếp, rồi thôi. Cô nhìn cái khánh bạc trên mặt kính, cái chữ "Bình an" chạm nổi đã mòn ở nét ngang.
Cô nghĩ đến một người đàn bà cô chưa bao giờ gặp. Một người ngồi bên cửa sổ, đang ốm, chải lại tóc vì con trai bảo ngồi yên để chụp. Rồi đứa con trai ấy tháo dây đeo máy, cuộn lại, mang đi cầm, lấy tiền mua thuốc cho mẹ.
Bốn mươi năm sau, ở đúng cái quầy này, một người mẹ mang đồ của con đi cầm để lấy tiền thuốc cho con. Ngược chiều nhau, như hai nửa của một tờ biên nhận.
– Chị Ngân. – Khuê nói. – Bác sĩ có bảo chi phí nằm viện bao nhiêu không?
– Dạ, em không biết. Em nghĩ phải có sẵn tiền thì người ta mới cho nằm.
– Cháu có thẻ bảo hiểm y tế không?
Ngân ngập ngừng.
– Có ạ. Lúc cháu đẻ ra ở quê, bà nội làm cho. Nhưng cái thẻ để ở quê. Em đi vội, em quên.
– Trẻ con dưới sáu tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế, nhà nước đóng tiền. – Khuê nói. – Cháu có thẻ rồi thì đi khám, nằm viện, phần lớn là bảo hiểm trả. Chị bảo bà nội chụp cái thẻ gửi lên, hoặc gửi xe khách lên luôn. Thứ Hai chị mang theo vào viện. Chị hỏi thêm ở chỗ tiếp đón, người ta chỉ cho.
Ngân nhìn cô, môi mấp máy.
– Thế… thế em không phải đóng hai triệu ạ?
– Em không biết chính xác chị phải đóng bao nhiêu. Có thể có khoản phải tự trả. Nhưng không phải tất cả. – Khuê nói. – Chị gọi về quê bây giờ đi.
Ngân lấy điện thoại, gọi. Giọng chị ta đổi hẳn khi nói với quê, nhanh và lơ lớ, Khuê chỉ nghe được dăm chữ. Đứa bé trong địu lại ho. Bà Mẫn xuất hiện ở cửa bên với một chén nước gừng nóng, không biết bà thấy từ lúc nào.
– Cho cái con mẹ uống. – Bà nói. – Mẹ mà ốm thì con ai trông.
Mười phút sau, Ngân cúp máy, mắt đỏ hoe.
– Bà nội cháu bảo chiều nay gửi xe khách. Tối em ra bến nhận.
– Thế thì tốt rồi.
– Nhưng em vẫn cần ít tiền, chị ạ. Tiền xe, tiền ăn trong viện, tiền mua mấy thứ. – Ngân nói. – Em không đi bán được.
Khuê cầm cái khánh lên một lần nữa.
– Cái khánh này cầm được năm trăm nghìn. – Cô nói. – Em không cho cầm cao hơn được, vì nó không đáng hơn. Hạn một tháng, lãi một rưỡi phần trăm. Chị có lấy không?
– Có ạ.
Khuê làm hợp đồng. Cô viết lên giấy pơ-luya: "Khánh bạc trẻ con, chạm chữ Bình an, mặt sau cá chép, kèm túi gấm đỏ. Diệp Thị Ngân." Cô gấp đôi, xé tay. Mép xé răng cưa, đẹp, cô đã quen tay.
Ngân cầm nửa tờ biên nhận, gấp lại, cất vào trong túi áo trong. Rồi chị ta nhìn theo cái túi gấm đỏ Khuê đang cất vào két.
– Chị giữ cẩn thận giúp em. – Chị ta nói. – Bà ngoại cháu cho.
– Em giữ.
Lúc hai mẹ con đi, đứa bé ngoái đầu lại qua vai mẹ, giơ tay vẫy con mèo. Lãi nhìn theo, không vẫy lại, nhưng cũng không nhắm mắt.
Buổi chiều, Khuê lên tầng hai.
Cô đã định làm việc này từ đêm giao thừa dương lịch, từ lúc nghe cô Hương kể về cái chiếu nghỉ. Cô không biết mình tìm cái gì. Ba lá thư bà Lài bảo ông cất đi. Một cái gì đó viết tay. Một cái gì đó giải thích.
Phòng ông vẫn như cũ. Cô mở tủ áo, lần từng cái túi áo. Một cái khăn mùi xoa. Một tờ hoá đơn tiền điện năm hai mươi hai. Một nắm dây chun. Cô mở ngăn kéo bàn. Hộp tua vít, lọ dầu máy, cái kính lúp. Một cuốn lịch cũ. Một tập ảnh gia đình bọc giấy bóng, trong đó có ảnh bố cô lúc mười tuổi, mặc áo trắng quần xanh, đứng cạnh ông trước cửa tiệm, cười toét, sún răng cửa. Có ảnh cô Hương lúc thi tốt nghiệp. Có ảnh cô, sáu tuổi, ngồi trên quầy kính, tay cầm hai nửa tờ biên nhận, mặt nghiêm như đang kiểm toán.
Từ năm bố cô mười bảy tuổi trở đi, trong tập không có tấm nào của bố.
Cô xếp lại tập ảnh. Cô mở cái hòm gỗ dưới gầm giường. Chăn bông, màn, mấy bộ quần áo của bà nội gấp vuông, thoang thoảng mùi long não. Không có thư.
Cô ngồi xuống sàn, lưng dựa vào thành giường. Nắng chiều qua cửa sổ rọi một vệt vàng lên tấm chiếu cói. Cô nghĩ đến bố, đến cái điều khiển ti vi đứng yên trong tay ông, đến câu "Càng phải bán".
Một người muốn bán nhà để trả nợ thì nói "phải bán". Một người nói "càng phải bán" khi nghe tên một người cũ, là người muốn bán nhà để thôi phải nhớ.
Tối thứ Sáu, chín tháng Một, Sình đến chuộc máy tính.
Cậu đến lúc sáu rưỡi, sớm hơn mọi tối, mặc cái áo khoác đồng phục trường, đeo cái ba lô to, nhưng hôm nay trên tay còn xách thêm một cái túi vải thổ cẩm.
– Chị ơi, em có học bổng rồi ạ. – Cậu nói, mặt đỏ vì lạnh, hoặc vì vui. – Chiều nay vào tài khoản.
Cậu đặt bốn triệu lên quầy, cộng thêm tiền lãi, đã tính sẵn, để trong một cái phong bì trắng, ngoài phong bì ghi tay: "Tiền chuộc máy. Vàng A Sình." Khuê đếm. Đúng đến từng đồng.
– Thi thế nào em?
– Em được tám rưỡi môn khó nhất ạ. – Sình nói, rồi quay sang thằng Tũn đang ngồi trong kho. – Anh Tũn ơi, bài vòng lặp hôm trước ra đúng dạng anh dạy.
– Thấy chưa! – Tũn bật dậy, giơ hai tay lên trời như vừa ghi bàn. – Chị Khuê, chị thấy chưa! Em là giảng viên đại học đấy!
– Em là sinh viên năm hai bị mẹ bắt sang trông tiệm. – Khuê nói, nhưng cô cười.
Cô mở két, lấy cái máy tính ra. Cô làm động tác ấy mà không nghĩ: lấy nửa tờ biên nhận của Sình, đặt cạnh nửa tờ ghim trên nắp máy. Hai mép răng cưa ăn khớp.
Sình nhận máy, ôm vào ngực. Rồi cậu mở cái túi thổ cẩm, lấy ra một gói giấy báo buộc lạt.
– Cái này em biếu bà bán chè ạ. Chè shan tuyết nhà em trồng, mẹ em gửi xuống. – Cậu nói. – Còn cái này…
Cậu lấy ra một vật nhỏ, đặt lên mặt quầy. Một con mèo bằng gỗ, to bằng ngón tay cái, đẽo thô, chưa đánh bóng, nhưng nhìn là biết mèo, cái đuôi cong lên, hai tai nhọn.
– Em đẽo cho Lãi ạ. Tối nào nó cũng nằm cạnh tay em. Em không có gì cảm ơn nó.
Con mèo Lãi nhảy từ nóc két xuống mặt quầy, đi đến chỗ con mèo gỗ, ngửi. Rồi nó dùng một chân trước gạt con mèo gỗ đổ xuống, nhìn nó nằm nghiêng, rồi bỏ đi, vẻ mặt của người vừa xác minh xong đối thủ cạnh tranh không đáng ngại.
Tũn cười sặc. Sình cũng cười. Khuê dựng con mèo gỗ lên, đặt nó lên nóc két, cạnh chỗ Lãi vẫn nằm, cạnh con cá vải có chuông anh Thuận tặng.
– Tiệm này bắt đầu có bảo tàng rồi đấy. – Tũn nói.
Sình đi rồi, Tũn về rồi, Khuê ngồi một mình ghi sổ. Cô thêm một dòng vào bảng tính, ở cột "Ghi chú": "Sình được tám rưỡi. Đẽo cho Lãi một con mèo gỗ, Lãi chưa nhận."
Rồi cô dò lại danh sách. Đồ đang nằm trong két: bộ ấm của bà Nụ ở ngăn mười bảy, bà đã xin gia hạn thêm, bà bảo trước Tết. Cái huân chương của ông Đoái, "giữ hộ". Cái khánh bạc của Mít. Mười một món mới nhận từ cuối tháng Mười Một. Và hai mươi sáu món khác của ông, những món chưa có ai đến chuộc.
Cộng thêm một món không nằm trong két, không có trong bảng tính, không có trong sổ thu chi nào.
Chín giờ tối, điện thoại cô reo. Một số máy bàn, đầu số Hà Nội.
– Alô, chị Khuê phải không ạ? – Giọng một người phụ nữ trẻ, nói nhanh và khẽ. – Em là điều dưỡng ở viện dưỡng lão bên hồ Tây. Em chăm ông Vĩ ạ.
Khuê đứng bật dậy. Cái ghế mây kêu cót két.
– Ông ấy làm sao ạ?
– Dạ, ông ấy không sao. – Cô điều dưỡng nói. – Ông ấy bảo em gọi cho chị. Ông ấy bảo sáng Chủ nhật chị lên, chín giờ. Một mình chị.
– Chị Diễm có biết không ạ?
Đầu dây ngập ngừng.
– Dạ, ông ấy dặn em đừng nói với chị Diễm. – Cô điều dưỡng nói. – Chị Diễm chiều Chủ nhật mới đến. Ông ấy bảo buổi sáng là của ông ấy.
— Hết chương 20 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe