Chương 1: Chữ đầu tiên
Bố tỉnh hẳn vào sáng thứ Sáu, và chữ đầu tiên ông nói được là tên chồng cũ của Nhụy.
– Thạc.
Ông nói nhỏ, môi bên phải xệ xuống nên chữ ra méo. Nhưng là chữ thật. Mẹ Nhụy đang gập cái chăn mỏng thì đứng sững, hai tay còn giữ hai mép chăn.
– Ông nói gì? Ông nói lại tôi nghe.
– Thạc.
Mẹ quay sang nhìn Nhụy, cái nhìn rất nhanh, như người lỡ tay làm rơi một vật trước mặt khách rồi đợi xem khách có thấy không.
Nhụy kéo ghế nhựa lại sát giường, cúi xuống cho bố nhìn rõ mặt mình.
– Bố. Con đây. Con là Nhụy. Bố nhận ra con không?
Mắt bố đục, mí mắt phải sụp hơn mí trái. Ông nhìn cô rất lâu rồi mấp máy môi.
– Thạc.
Nhụy nắm lấy bàn tay phải của bố đang đặt trên chăn. Bàn tay ấy mềm oặt, không nắm lại được, ấm như một túi nước để ngoài nắng. Ngón út của ông cong hẳn vào trong, đầu ngón chĩa về phía ngón áp út. Ngón út của Nhụy cũng thế. Hồi bé, mỗi lần hứa với nhau điều gì, hai bố con móc hai ngón út cong vào nhau, khít như hai cái móc áo. Bố bảo đấy là ngón út nhà họ Mạc, người ngoài móc không khít được. Mẹ thì móc không khít. Cô từng thấy mẹ thử, rồi cười, rồi lườm hai bố con.
Cô móc ngón út của mình vào ngón út của bố. Ông không móc lại được. Ngón tay ông nằm yên trong ngón tay cô.
– Bố nói tên con đi. Nhụy. Nhụy.
– Thạc.
Mẹ quay đi, đặt cái chăn xuống cuối giường, vuốt cho phẳng dù nó đã phẳng.
Buổi đi buồng lúc chín giờ, bác sĩ điều trị, một anh còn trẻ đeo kính gọng nhựa, bảo ông Lự bị nhồi máu não bán cầu trái, liệt nửa người bên phải, và bị thất ngôn. Nghĩa là ông hiểu được một phần những gì người khác nói, nhưng não chưa tìm ra đường để nói ra lời.
– Nhiều người lúc đầu chỉ bật ra được một chữ, rồi lặp đi lặp lại chữ đó, – anh nói. – Thường là một chữ rất quen, rất gần. Tên người, tên con vật, một câu chửi tục cũng có. Không có nghĩa là ông muốn gọi người đó. Có khi chỉ là cái chữ ấy nằm sẵn ở đường ra.
– Chữ quen nhất của bố em phải là "đào", – Nhụy nói. – Hoặc là tên mẹ em.
– Tuần sau ông ổn định thì gia đình nên cho ông sang bên phục hồi chức năng, có người tập nói riêng. Đừng ép ông nói, cứ nói chuyện với ông như bình thường.
Bác sĩ đi rồi, mẹ ra hành lang rót nước nóng. Nhụy đi theo.
Hành lang khoa thần kinh chật như chợ, người nhà trải chiếu dọc chân tường. Mẹ đứng ở máy nước, rót đầy cái phích đã tróc sơn, vặn nắp chặt hơn mức cần thiết.
– Mẹ. Ba hôm nay ai trông bố?
– Tao.
– Ban đêm ai trông?
Mẹ không trả lời ngay.
– Thằng Thạc.
Nhụy đứng im. Cô bay từ Đà Lạt ra tối thứ Tư, tới viện gần mười một giờ đêm. Đêm ấy mẹ bảo cô về nhà ngủ cho lại sức. Sáng thứ Năm cô vào thì mẹ đã ngồi đấy. Tối thứ Năm mẹ lại đuổi cô về. Cô tưởng mẹ thương con mệt.
– Mẹ bảo anh ấy tránh mặt con à?
– Tao bảo nó hai hôm này đừng để mày thấy. – Mẹ nhét phích vào tay cô. – Mày vừa xuống máy bay, bố mày đang thế, tao không muốn hai đứa đứng cãi nhau giữa hành lang cho người ta xem.
– Con với anh ấy có gì mà cãi.
– Thì càng tốt.
– Sao anh ấy lại ở đây? Ly hôn bốn năm rồi mẹ ạ.
Mẹ quay lại. Mẹ sáu mươi mốt, vết sẹo mổ tim còn nhô sau cổ áo len. Nhưng ánh mắt vẫn là ánh mắt người bán đào chợ hoa bốn chục năm, nhìn một cái là biết cành nào nụ thật, cành nào nụ gắn.
– Hôm bố mày ngã ở vườn, thằng Lụt nó gọi thằng Thạc trước. Chứ không gọi tao, không gọi mày. Thằng Thạc xuống bãi trước cả xe cấp cứu, bế bố mày lên dốc đê, chở thẳng vào đây. Bác sĩ bảo đưa vào trong bốn tiếng là còn cứu được. Bố mày vào lúc năm giờ kém. Mày tự tính.
Nhụy cầm cái phích nóng rực trong tay.
– Sao thằng Lụt lại có số anh ấy?
– Mày hỏi thằng Lụt.
Mẹ đi vào phòng. Nhụy đứng lại ở hành lang, nhìn xuống cây sấu góc sân đã rụng gần hết lá.
Buổi trưa, bố ngủ. Buổi chiều, bố tỉnh, nhìn trần nhà, và mỗi lần có người cúi xuống, ông lại nói chữ ấy. Với cô y tá thay dịch, ông nói "Thạc". Với mẹ, ông nói "Thạc" rồi nhắm mắt, nước mắt chảy ngang ra thái dương. Mẹ lấy khăn thấm, miệng bảo "Ông khóc cái gì, tôi còn chưa chết".
Tối hôm ấy, Nhụy không về nhà. Cô bảo mẹ về ngủ, mẹ không chịu. Hai mẹ con ngồi hai bên giường. Gần mười giờ, mẹ ngủ gục trên thành giường. Nhụy nhìn điện thoại của bố để ở đầu tủ, cái máy bàn phím cũ, nắp sau dán băng dính đen. Cô cầm lên. Danh bạ chỉ có hai mươi mấy số. Có một số tên "Thạc".
Số của Thạc vẫn là số cũ. Mười số, đuôi bốn tám tám. Cô nhớ cái đuôi ấy. Hồi mới cưới cô trêu anh lấy số đuôi đẹp như dân buôn, anh bảo số này công ty cấp, đuôi đẹp là tình cờ, mà tình cờ thì phải giữ.
Cô đặt điện thoại xuống. Cô quyết định sáng mai sẽ xuống bãi.
Ba giờ sáng mẹ tỉnh, đuổi cô về nhà ngủ lấy một giấc. Cô về, nằm, không ngủ. Bốn giờ rưỡi sáng thứ Bảy, Nhụy dắt xe máy của mẹ ra khỏi ngõ. Nhà cô ở sát chân đê, bên trong là phố, bên ngoài là sông. Trên mặt đê đã có mấy người chạy bộ, mấy xe chở rau từ bãi lên chợ. Mặt trăng ngày rằm tháng Chín còn treo trên nóc mấy tòa nhà phía tây, tròn và nhạt như một đồng xu bị ai mài. Phía đông chưa có gì.
Cô cho xe xuống con dốc bê tông dẫn ra bãi Lũng Hồng, con dốc bố cô đổ cùng mấy nhà trong xóm năm cô học lớp Ba. Qua dốc là đường đất men theo bờ, hai bên bãi ngô đã thu, rồi đến các vườn đào.
Sương trên bãi dày đến mức cô phải bật đèn pha. Mùi bãi sông vẫn như thế: đất phù sa ẩm, phân chuồng ủ, khói rơm ai đốt từ tối qua chưa tắt hẳn.
Vườn nhà họ Mạc ở gần mỏm bãi. Cô dựng xe ở cổng tre. Hàng đào đầu tiên hiện ra trong sương như một hàng người đứng chờ, lá đã ngả vàng. Một tháng nữa người ta sẽ tuốt trụi lá để cây dồn sức nuôi nụ cho Tết.
Cô chưa kịp đi vào thì có tiếng người, trầm, đều, từ giữa vườn vọng ra.
– Lụt ơi, mày lấy cho anh cuộn dây kẽm số hai, cái cuộn bọc nhựa ấy, đừng lấy cuộn trần.
Nhụy đứng im ở cổng. Một lát sau, từ trong sương, một người đàn ông đi ra, đội chiếc nón lá có quai bằng vải đỏ. Cô biết cái quai ấy. Mẹ cô khâu nó bằng một mảnh vải điều thừa của áo cưới cô, khâu mũi đột, chặt đến mức nhà có giặt nón cũng không bung. Đó là nón của bố. Người đàn ông ấy đội nón của bố, mặc áo khoác bộ đội cũ của bố, và trong tay cầm con dao ghép cán sừng của bố. Lưỡi mỏng, cán sừng trâu đen bóng, cả đời ông Lự không cho ai mượn.
Anh dừng lại khi thấy cô.
Bốn năm. Anh gầy đi, tóc mai có mấy sợi bạc. Anh nhìn cô như người ta nhìn một cái cây mình quen ở chỗ khác, giờ tự dưng mọc ở đây.
– Nhụy, – anh nói. – Em về rồi.
Không có dấu hỏi. Anh biết cô về. Mẹ cô đã báo cho anh, tất nhiên.
– Anh làm gì ở đây?
– Uốn lại thế cho mấy cây đào thế mé trong. Hôm bố ngã, dây buộc mấy cây ấy còn dở. Để lâu nó bật cành.
– Tôi hỏi sao anh lại ở vườn nhà tôi.
– Anh nghe rồi.
Anh quay lại cây đào thế gần nhất, quấn tiếp dây kẽm quanh một cành nhỏ, từ gốc cành ra ngọn, mỗi vòng cách nhau đúng một đốt ngón tay. Bố cô quấn y như thế. Cô thấy khó chịu, như thấy ai đó mặc áo của người nhà mình mà vừa khít.
Thằng Lụt chạy ra, tay cầm cuộn dây kẽm, nhìn thấy cô thì phanh lại suýt ngã.
– Ơ, chị Nhụy. Chị về đấy á? Chị về sao chả ai bảo em.
– Lụt. Hôm bố chị ngã, sao em gọi anh Thạc trước?
Thằng Lụt nhìn Thạc, rồi nhìn cô, gãi đầu.
– Thì ông dặn thế. Ông bảo có chuyện gì ở vườn thì gọi anh Thạc trước, rồi mới gọi bà. Ông bảo bà yếu tim, gọi bà trước bà lại lăn ra thì khổ.
– Ông dặn từ bao giờ?
– Từ hồi em vào làm. Hai năm rồi.
Cô nhìn Thạc. Anh vẫn quấn dây.
– Lụt, mày ra tưới mấy luống đào cành mé sông đi, – anh nói, không quay lại. – Tưới gốc thôi, đừng tưới lá.
Thằng Lụt nhìn hai người thêm một giây rồi chạy biến vào sương.
– Cảm ơn anh hôm ấy đã đưa bố tôi đi viện, – Nhụy nói. Giọng cô bằng phẳng, như đọc một biên bản. – Mẹ tôi kể rồi. Nếu không có anh, có khi bố tôi không qua được. Tôi nhớ ơn. Nhưng từ hôm nay anh không phải xuống đây nữa. Mấy hôm nay anh bỏ công bao nhiêu, tiền xăng bao nhiêu, anh nhắn cho tôi, tôi gửi đủ.
Thạc dừng tay. Anh cười, một cái cười rất ngắn bằng mũi, cái cười cô từng thích, cái cười của người vừa nghe một câu đùa dở nhưng không muốn làm người kể mất hứng.
– Tiền công của anh à?
– Vâng.
Anh cắt đầu dây kẽm, bẻ gập vào trong cho khỏi xước cành, rồi mới quay lại.
– Em đi xem một vòng đã. Đừng vội đuổi anh trong lúc sương còn chưa tan, em chưa thấy hết cái vườn đâu.
Cô không trả lời. Cô đi.
Vườn vẫn như trong trí nhớ, mà cũng không như. Mé trong là khu đào thế, cây nào cũng có tấm thẻ nhôm nhỏ ở gốc, ghi tuổi cây và tên thế bằng nét chữ nghiêng nghiêng của bố. Cụ Mộc vẫn đứng ở giữa, cây đào già nhất bãi, gốc đào rừng ông nội cô mang từ trên núi về, bố trồng năm mười tám tuổi. Thân xù xì như một khúc gỗ lũa, cành uốn như con rồng đang trườn. Có khách trả ba trăm triệu, bố cười hề hề rót chè mời, không nói không bán, cũng không nói giá.
Nhưng cũng có những thứ lạ. Cái lều mái tôn đã được lợp lại. Khu đào cành có dàn ống tưới nhỏ giọt chạy dọc các hàng, thứ bố cô từng bảo là đồ chơi của dân thành phố.
Và ở góc gần lều, chỗ cô đứng chụp ảnh cưới bảy năm trước, cây cưới vẫn còn.
Cô tưởng bố đã chặt nó. Cô đã mong bố chặt nó. Đấy là một gốc đào phai bố ghép hai mắt, một mắt bích, một mắt bạch, ghép vào mùa hè trước đám cưới. Để Tết đầu tiên của hai vợ chồng cây nở hai màu trên cùng một gốc, đỏ thắm một bên, trắng một bên. Năm ấy nó nở thật. Cả xóm sang xem. Sáng mùng một, Thạc đến xông đất nhà vợ, đứng dưới cây ấy chụp ảnh với bố.
Giờ cây đã cao hơn cô. Nhánh bích to, khỏe, lá còn xanh. Nhánh bạch thì gầy, chỗ mắt ghép phồng lên một cục, có vệt nhựa đã khô sẫm như sáp nến. Ở gốc buộc một tấm thẻ nhôm. Hai chữ, nét bố viết, ấn mạnh tay đến mức thủng cả mặt nhôm ở dấu chấm: KHÔNG BÁN.
Cô đứng nhìn tấm thẻ.
Sau lưng cô, cột lều treo cái gương tròn khung gỗ bố vẫn dùng để cạo râu mỗi sáng. Thạc đóng cái khung ấy năm đầu về làm rể, bằng gỗ xoan thừa. Mặt gương có một đường nứt chéo từ mép xuống giữa. Nhìn vào, mặt người bị cắt làm hai, lệch nhau một chút.
Sương đã tan. Mặt trời lên khỏi rặng tre bờ bên kia, đỏ như lòng đỏ trứng vịt. Thạc đi tới, đứng cách cô một khoảng, cái nón của bố đã bỏ ra cầm ở tay.
– Em xem xong rồi chứ?
– Tôi xem rồi. Anh làm cũng chăm. Vậy thì tôi càng phải trả công cho đủ.
Anh gật đầu, như thể đã đợi đúng câu ấy. Anh đi vào lều, mở cái tủ gỗ thấp bố vẫn để ấm chén, lấy ra một túi nhựa trong có khóa kéo. Trong túi là mấy tờ giấy A4 đã ố mép, gấp đôi.
Anh đưa cho cô.
– Em đọc cái này rồi hãy tính công cho anh.
Nhụy mở túi. Tờ đầu tiên đánh máy, có quốc hiệu, có dòng kẻ. Ở giữa là chữ in đậm: HỢP ĐỒNG HỢP TÁC TRỒNG VÀ KINH DOANH ĐÀO. Bên A: Mạc Văn Lự. Bên B: Đàm Quang Thạc.
Cô đọc lướt xuống, mắt dừng lại ở điều thứ ba, ở một con số được ai đó gạch chân bằng bút bi xanh.
Bên B được hưởng bốn mươi chín phần trăm.
— Hết chương 1 —
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe