Chương 15: Chữ thứ ba
Vòng ruy băng đỏ nằm trong túi áo khoác của Nhụy suốt bốn ngày. Sáng nào mặc áo, cô cũng chạm tay vào nó. Cô không buộc lại lên cây. Cô cũng không vứt đi.
Thạc không hỏi.
Sáng thứ Hai sau đêm sinh nhật, anh xuống bãi muộn, mắt sưng, giọng khàn. Anh đi thẳng đến chỗ cô đang rải trấu quanh gốc đào phai, đứng cách hai bước.
– Hôm qua anh nói linh tinh, – anh nói. – Em đừng để bụng.
– Anh nói rõ lắm. – Cô không ngẩng lên, tay vẫn rải trấu. – Chữ nào ra chữ nấy.
Anh im một lúc.
– Ừ. – Rồi anh nói thêm, nhỏ hơn: – Cảm ơn em đã kéo anh vào.
Cô rải nốt nắm trấu. Khi cô ngẩng lên thì anh đã đi về phía mé sông. Trên cái chõng tre trong lều có một cái chai thủy tinh cũ, rửa sạch, đổ nước, cắm một cành đào bích nhỏ, nụ còn nâu. Bên cạnh không có giấy nhắn. Cô biết là anh cắm. Cô mang cái chai về nhà, đặt lên bàn học, cạnh cái hộp gỗ thông của Bách.
Gió mùa về thật. Nồm tan. Nhiệt độ tụt xuống mười bốn độ vào sáng thứ Hai, mười hai độ sáng thứ Ba. Dưới mái lưới đen bên Thạc, những cái nụ đã hé hồng khép lại, không khép hẳn nhưng đứng im, như người đang chạy bị gọi giật lại. Thằng Lụt với anh Toản dỡ lưới, cuộn lại, cất vào góc lều. Thằng Lụt hỏi có căng lại sợi dây xanh không. Nhụy nhìn cuộn dây xanh treo trên cột lều. Cô bảo để đấy đã.
Sáng thứ Năm, mười tháng Mười Hai, chị Quỳnh mời cả mẹ lẫn Nhụy vào phòng tập nói.
– Hôm nay mình thử ảnh người nhà, – chị nói. – Ảnh thật, không phải thẻ hình. Người bệnh nhận ra mặt người thân thì đường ra của chữ ngắn hơn. Chị nhờ bác gái mang ảnh lên rồi.
Mẹ lấy trong túi ra một tập ảnh cũ, loại ảnh in giấy bóng, góc đã quăn. Mẹ đặt từng tấm lên bàn. Ảnh bãi đào mùa hoa. Ảnh bố đứng cạnh cụ Mộc hồi còn trẻ, tóc đen, gầy nhom. Ảnh Nhụy lên năm tuổi ngồi trên vai bố. Ảnh mẹ ngồi bán đào ở chợ hoa, quàng khăn len đỏ.
Nhụy nhìn tập ảnh. Không có tấm ảnh cưới nào. Không có tấm nào có Thạc.
Chị Quỳnh cầm tấm ảnh mẹ ở chợ hoa, đặt trước mặt bố.
– Bác Lự, đây là ai ạ?
Bố nhìn tấm ảnh. Bố nhìn rất lâu, lâu đến mức mẹ cựa mình trên ghế.
– Nh… – bố nói. Môi bố bậm lại, run run. – Nhàn.
Mẹ ngồi im. Rồi mẹ đưa tay lên, chỉnh lại cái kẹp tóc, chỉnh mãi.
– Bác giỏi lắm, – chị Quỳnh nói. – Chữ mới đấy ạ. Bác nói lại một lần nữa nhé. Nhàn.
– Nhàn.
Chị Quỳnh đặt tấm ảnh Nhụy ngồi trên vai bố xuống.
– Nhụy, – bố nói ngay, không phải nghĩ.
Chị đặt tấm ảnh bố đứng cạnh cụ Mộc.
Bố nhìn chính mình bốn mươi năm trước. Bố nhìn cái cây. Miệng bố mở ra rồi khép lại.
– Không sao bác, – chị Quỳnh nói. – Mình thử cách khác nhé. – Chị gom tập ảnh lại, đặt sang bên. Chị nghiêng người về phía bố, nói chậm, rõ. – Bác Lự. Bây giờ, nếu bác nói được một câu, với một người, bác muốn nói với ai nhất?
Đây là câu hỏi mở. Nhụy biết. Chị Quỳnh đã giải thích từ tuần trước: câu hỏi mở khó hơn, nhưng thỉnh thoảng nó mở ra những chữ mà thẻ hình không mở được.
Bố nhìn chị Quỳnh. Rồi bố nhìn mẹ. Rồi bố nhìn Nhụy. Ánh mắt bố dừng lại ở cô rất lâu. Bàn tay trái của bố trên mặt bàn co lại, nắm chặt, các khớp trắng ra.
– Th… – bố nói.
– Thạc, – mẹ nói hộ, nhanh. – Ông muốn nói với thằng Thạc chứ gì.
Bố lắc đầu.
– Th… Thoa.
Chữ ấy rơi xuống mặt bàn gỗ như một hòn sỏi.
Nhụy không thở được. Cô ngồi đờ người trên ghế, hai tay đặt trên đùi, nhìn bố.
Mẹ không động đậy. Mẹ ngồi thẳng lưng, mắt nhìn bố, mặt không biến sắc. Rồi mẹ cười. Một tiếng cười ngắn, khô, như tiếng cành củi gãy.
– Ông lẩm cẩm rồi. – Mẹ quay sang chị Quỳnh. – Chắc tên cô y tá nào bên khoa thần kinh. Mấy hôm nằm bên ấy có cô y tá nào tên Thoa thì phải.
– Vâng, cũng có thể ạ, – chị Quỳnh nói. – Người bệnh hay bật ra tên những người vừa chăm mình.
– Thoa, – bố nói lại. Rõ hơn. Mắt vẫn nhìn Nhụy.
Mẹ đứng dậy.
– Thôi, hôm nay ông mệt rồi. Chị cho ông nghỉ nhé. – Mẹ đẩy cái xe lăn ra sát bàn, động tác nhanh và gọn như người đã làm việc ấy hàng trăm lần. – Nhụy, đỡ bố mày lên xe.
Nhụy đứng dậy. Chân cô như không phải chân mình.
Buổi chiều, mẹ ngồi đan len ở cuối giường. Cái áo len màu xám chì đan dở cho bố, đan từ hôm bố mới chuyển sang đây. Hai que đan lách cách đều đều. Bố ngủ.
Nhụy ngồi ở đầu giường bên kia, cắt móng tay cho bố, cắt bàn tay phải, bàn tay không động đậy. Cô cắt cẩn thận từng ngón. Đến ngón út cong, cô phải nâng nó lên, xoay nghiêng mới cắt được.
Cái tên ấy. Bố biết cái tên ấy.
Bốn năm trước, ở hành lang khoa tim, cô đã hỏi bố: "Bố có biết ai tên Thoa không?". Bố bảo không. Rồi bố khóc. Có thể bố nhớ cái tên ấy từ hôm ấy. Có thể bốn năm qua bố vẫn nhớ, vì bố giận. Vì cái tên ấy là cái tên đã làm con gái bố ly hôn. Vì bố biết, tháng trước, Thạc vẫn chuyển tiền cho người đàn bà ấy. Cô đã kể cho bố, hôm thứ Sáu ấy, và bố đã đập tay xuống giường. Bố giận. Bố muốn nói với người đàn bà ấy một câu. Một câu gì đó, kiểu "buông tha cho con rể tôi" hay "buông tha cho con gái tôi".
Cô cắt xong móng tay ngón út. Cô đặt bàn tay bố xuống chăn.
Có thể là thế.
Que đan của mẹ dừng lại.
– Nhụy.
– Dạ.
– Cái Thoa là đứa nào?
Mẹ hỏi rất nhẹ, như hỏi giá một bó rau. Mẹ không ngẩng lên. Mắt mẹ vẫn nhìn mũi đan, hai que đan vẫn cầm trên tay, chỉ là không động đậy.
Nhụy nhìn mẹ. Mẹ sáu mươi mốt tuổi. Vết sẹo mổ tim nhô lên sau cổ áo len. Bốn năm trước, bác sĩ dặn tránh cho mẹ xúc động mạnh. Bác sĩ bây giờ vẫn dặn thế, mỗi lần mẹ đi tái khám. Hộp thuốc chống đông của mẹ để ở đầu giường, cạnh hộp thuốc của bố, mỗi ngày một viên, không được quên.
– Không ai cả mẹ, – Nhụy nói.
Que đan của mẹ vẫn đứng im. Một giây. Hai giây.
– Ừ, – mẹ nói.
Rồi que đan lại lách cách.
Tối hôm ấy, Nhụy về nhà lấy sạc cho cái điện thoại cũ của bố. Mẹ bảo máy hết pin mấy hôm rồi, sạc lên để người ta có gọi hỏi thăm thì còn biết. Cô cắm sạc ở bàn học, ngồi chờ máy lên.
Màn hình bé xíu sáng lên. Hai vạch pin. Cô định cất máy vào túi thì dừng lại.
Cô mở nhật ký cuộc gọi.
Cô không biết vì sao cô mở. Có lẽ vì cái tên rơi xuống mặt bàn sáng nay. Có lẽ vì tiếng mẹ hỏi "cái Thoa là đứa nào" rồi không đan tiếp. Cô bấm phím xuống, xuống nữa, mắt lướt qua những cái tên. "Bà Nhàn". "Con Nhụy". "Thạc". "Cả Tảo". "Đại lý phân". "Thạc". "Thạc". "Lụt".
Và một số không có tên. Cuộc gọi đến.
Chủ nhật mười tám tháng Mười, tám giờ hai phút tối. Mười một phút.
Cô bấm xuống tiếp. Chủ nhật mười một tháng Mười, tám giờ tối. Chín phút. Chủ nhật bốn tháng Mười, tám giờ năm phút. Mười bốn phút. Chủ nhật hai mươi bảy tháng Chín. Chủ nhật hai mươi tháng Chín.
Cứ tối Chủ nhật. Cứ tám giờ. Cùng một số. Lùi mãi, lùi đến hết bộ nhớ của cái máy cũ, vẫn là số ấy, vẫn tối Chủ nhật.
Cuộc gọi cuối cùng là tối Chủ nhật hai ngày trước khi bố ngã. Sau đó không còn cuộc nào.
Cô ngồi nhìn cái số điện thoại trên màn hình. Mười số. Không phải số của Thạc.
Cô cầm điện thoại của mình lên. Bấm từng số. Ngón tay cô run, bấm sai một số, xóa, bấm lại. Chín giờ tối thứ Năm. Cô bấm gọi.
Chuông đổ. Một hồi. Hai hồi. Ba hồi.
– Alô?
Một giọng phụ nữ. Giọng miền Tây, nhỏ, hơi khàn.
Nhụy há miệng. Cô đã định hỏi: "Chị là ai? Sao tối Chủ nhật nào chị cũng gọi cho bố tôi?". Câu ấy cô đã soạn sẵn. Nhưng nghe thấy cái giọng ấy, cô nhận ra nó. Bốn năm, cô vẫn nhận ra. "Chị ơi em xin chị. Em không phá nhà ai."
– Alô? – giọng ấy nói lại. – Ai vậy?
– Tôi là Nhụy, – cô nói. – Con gái ông Lự.
Đầu kia im lặng.
Một sự im lặng dài, dài đến mức cô nghe được tiếng quạt máy quay ở đầu bên kia, tiếng ti vi xa xa, và rồi một giọng trẻ con, trong veo, rất gần cái điện thoại:
– Mẹ ơi, ai gọi vậy mẹ? Phải bố không?
Cuộc gọi tắt.
Nhụy ngồi im, điện thoại vẫn áp vào tai, nghe tiếng tút tút đều đều như tiếng máy đo nhịp tim. Rồi cô bấm gọi lại. Chuông không đổ. Một giọng tổng đài nói thuê bao tạm thời không liên lạc được.
Cô đặt điện thoại xuống bàn, cạnh cái chai thủy tinh cắm cành đào và cái hộp gỗ thông.
"Phải bố không?"
Cô gọi từ số của cô. Một số lạ với họ. Thằng bé không biết ai gọi. Thằng bé chỉ hỏi, như một đứa trẻ hỏi theo thói quen, mỗi lần chuông điện thoại reo vào buổi tối. Phải bố không. Phải bố không.
Tối Chủ nhật nào cũng tám giờ. Mười một phút. Chín phút. Mười bốn phút. Bố cô chưa bao giờ nói chuyện điện thoại với ai quá ba phút. Mẹ gọi lên vườn hỏi trưa về ăn cơm không, bố bảo "ừ" rồi tắt máy. Cô gọi từ Đà Lạt hỏi thăm, bố hỏi "ăn cơm chưa", "rét không", rồi bảo "thôi, gọi điện tốn tiền", tắt máy. Ba phút là nhiều.
Mười bốn phút.
Cô đứng dậy. Cô đi ra cửa phòng, rồi đi vào. Cô trèo lên sân thượng, đứng giữa những cái chum tương của mẹ. Gió bấc thổi lạnh buốt. Bên kia mặt đê, bãi Lũng Hồng tối đen, không có đốm sáng nào. Đêm nay không ai ở lều.
Cô nghĩ đến cái lắc đầu của bố hôm ở viện, khi Thạc cúi xuống bảo "con đây bố". Đến chữ "không" bố đập tay xuống giường mà nói. Đến chữ "Thoa" sáng nay, mắt bố nhìn thẳng vào cô.
Cô nghĩ đến bàn tay bố. Bàn tay đã cõng cô trên vai đi chợ hoa. Bàn tay gọt bút chì cho cô cả buổi tối.
Không thể.
Cô đứng trên sân thượng đến khi chân tê cóng, rồi xuống, nằm lên giường, kéo chăn trùm kín đầu, như hồi bé sợ ma.
— Hết chương 15 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe