Chương 6: Người từ Đà Lạt
Bách mang ra Hà Nội một chậu lan hài, bọc ba lớp giấy báo, xách tay suốt chuyến bay vì sợ ký gửi bị đè.
– Giống em lai năm ngoái, – anh nói, khi đặt chậu lan lên bậu cửa sổ phòng bệnh. – Lứa đầu ra hoa. Anh định đợi em về Đà Lạt mới đưa, mà nghĩ lại thì mang ra cho bác xem trước.
Bông lan màu vàng nghệ, cánh môi phồng lên như cái túi nhỏ, có những chấm nâu li ti. Nhụy nhìn nó, nhớ những buổi tối ngồi trong nhà kính dùng tăm tre chấm phấn, nhớ cả mấy tháng chờ hạt nảy mầm trong lọ thủy tinh. Cô không nghĩ nó ra hoa nhanh thế.
Bố nhìn chậu lan, rồi nhìn Bách. Bách cúi xuống, chào bố bằng hai tay, nói chậm và rõ như người đã được dặn trước cách nói chuyện với người bị thất ngôn.
– Cháu chào bác. Cháu là Bách, cháu làm cùng Nhụy trên Đà Lạt. Bác cứ nghỉ, cháu chỉ ghé thăm thôi.
Bố nhìn anh rất lâu.
– Thạc, – bố nói.
Bách không bối rối. Anh mỉm cười, gật đầu như thể được bố gọi đúng tên mình.
– Dạ.
Mẹ ngồi ở góc phòng, đang chuốt một quả táo. Mẹ không đứng dậy chào. Đến khi Bách quay sang chào, mẹ mới ngẩng lên, gật đầu một cái.
– Cảm ơn anh đã đến. Anh ngồi chơi.
"Anh". Không phải "cháu". Nhụy biết mẹ cô. Với người mẹ quý, mẹ gọi "cháu", gọi "con", đánh mắng như người nhà. Với người mẹ chưa quyết, mẹ gọi "anh", lịch sự như với khách mua đào lần đầu. Thạc ngày đầu tiên đến nhà, mẹ cũng gọi "anh". Gọi đến lần thứ ba thì đổi.
Buổi chiều, cô đưa Bách xuống bãi.
Bách đứng ở đầu con dốc bê tông nhìn xuống cả vườn đào mé sông, gió thổi bạt tóc. Anh không nói gì một lúc lâu. Người làm giống hoa nhìn một vườn cây khác hẳn người thường. Người thường nhìn thấy cây. Người như Bách nhìn thấy đất, thấy nước, thấy rễ dưới đất, thấy những thứ chưa xảy ra.
– Đẹp, – anh nói. – Mà khó.
– Khó chỗ nào anh?
– Đất phù sa ngậm nước. Mùa lũ ngập. Mùa khô thì gió sông hút ẩm. Cây ở đây sống được là giỏi rồi, còn bắt nó nở đúng một ngày trong năm nữa thì đúng là nghề.
Anh mang theo bộ kít thử nhanh, mấy cái ống nghiệm có nắp, một hộp đá khô nhỏ. Nhụy dẫn anh đi dọc bốn hàng đào mé sông. Bách ngồi xổm cạnh từng vết xanh lơ trên thân cây, lấy dao mổ khều một ít mô ở mép vết cạo cũ, cho vào ống. Anh làm cẩn thận, lấy mẫu ở mười hai cây, ghi số cây lên nắp ống bằng bút dạ.
– Anh mang về phòng thí nghiệm nuôi cấy cho chắc, – anh nói. – Kít này chỉ biết có nấm hay không, không biết là nấm gì. Mà em cạo đúng đấy. Mép vết cạo vát nghiêng thế này là chuẩn.
– Không phải em cạo, – Nhụy nói.
Thạc đang ở khu đào thế, quấn lại dây cho mấy cây bị gió hôm thứ Tư làm xô dây. Nghe thấy, anh ngẩng lên, rồi đặt cuộn dây xuống, đi lại.
Hai người đàn ông bắt tay nhau. Bách bắt tay bằng cả hai tay, lễ phép. Thạc bắt một tay, chắc, ngắn.
– Anh là Bách.
– Thạc.
– Vết cạo của anh à? – Bách chỉ vào thân cây. – Anh làm đẹp lắm. Nhiều người cạo mà sợ cây đau, cạo không tới mô lành. Anh cạo dứt khoát.
– Nhụy bảo cạo tới đâu thì tôi cạo tới đó.
Hai người nói chuyện về đất, về rãnh thoát nước, về chuyện mùa lũ năm nay nước rút chậm. Thạc dẫn Bách ra xem cái rãnh anh với thằng Lụt mới đào dọc hàng mé sông. Bách hỏi kỹ độ dốc, độ sâu, hỏi nước rút ra đâu. Thạc trả lời từng câu, rõ ràng, không thừa chữ nào. Họ nói chuyện như hai người cùng nghề gặp nhau ở hội thảo, lịch sự, tôn trọng, và lạnh như hai tảng đá được người ta đặt cạnh nhau.
Gió sông chiều thổi mạnh dần. Nhụy chỉ mặc áo phông với áo gió mỏng, đứng một lúc thì so vai. Bách để ý, cởi cái áo khoác dạ của mình ra, khoác lên vai cô. Anh làm việc ấy tự nhiên, không hỏi, không nói gì.
Thạc nhìn thấy. Anh quay đi, trở lại khu đào thế.
Năm phút sau, từ góc vườn, có tiếng rìu bổ củi. Đều đặn, chắc nịch, từng nhát một.
Thằng Lụt chạy ra chỗ Nhụy, ghé tai nói nhỏ, giọng hoảng thật sự:
– Chị ơi, anh Thạc chẻ củi ác thế. Đống củi đào bệnh hôm nọ đốt hết rồi, giờ anh ấy chẻ cả đống củi ông để dành nấu bánh chưng. Củi ấy dùng đến Tết sang năm cũng chưa hết.
Bách nghe thấy. Anh nhìn về phía góc vườn, rồi nhìn Nhụy. Anh không hỏi gì. Một lúc sau, khi hai người đi về phía cổng, anh mới nói, giọng vẫn nhẹ:
– Anh ấy là chồng cũ của em.
Không phải câu hỏi.
– Sao anh biết?
– Em gọi anh ấy là "anh ấy". Cả buổi. Em không gọi tên. – Bách cười. – Người mình không còn để ý thì mình gọi tên được.
Nhụy không trả lời. Bách cũng không hỏi tiếp.
Tối hôm ấy, mẹ về nhà nấu cơm. Thạc nhận trực ở trung tâm từ tám giờ tối, nên mẹ được về ngủ một đêm cho lại sức. Mẹ bảo Nhụy mời anh Bách đến ăn bữa cơm, người ta ở xa ra, bố lại đang ốm, không mời thì thất lễ. Rồi mẹ bảo Thạc ăn cơm ở nhà rồi hẵng lên trực, ăn cơm hộp mãi ốm ra đấy thì ai trông bố.
Cho nên bảy giờ tối thứ Ba, trên cái mâm gỗ tròn giữa nhà, có bốn người ngồi. Mẹ. Nhụy. Bách. Thạc.
Mẹ nấu cá trắm kho tương, canh cua rau đay, đậu rán, đĩa rau muống luộc chấm nước dầm sấu. Cá kho tương là món Thạc thích nhất. Ngày trước, lần đầu tiên anh đến ăn cơm nhà cô, mẹ nấu đúng món ấy, anh ăn bốn bát cơm, mẹ quyết định gọi anh là "con" từ hôm đó.
Mẹ gắp miếng khúc giữa, khúc ngon nhất, bỏ vào bát Thạc.
– Ăn đi. Gầy như cái que.
– Con cảm ơn mẹ.
Rồi mẹ gắp miếng khúc đuôi bỏ vào bát Bách.
– Anh ăn đi. Món nhà quê, anh ăn có quen không.
– Dạ ngon lắm bác. Cá kho tương thế này trên Đà Lạt cháu chưa ăn được chỗ nào.
Bách ăn chậm, khen từng món, hỏi mẹ cách kho cá cho thịt chắc. Mẹ trả lời ngắn. Thạc ăn im lặng.
– Anh Bách quê ở đâu? – mẹ hỏi, khi đã gắp xong một lượt.
– Dạ, bố mẹ cháu người Huế, vào Đà Lạt từ trước khi cháu sinh. Cháu lớn lên trên đó, học trên đó, giờ làm trên đó.
– Thế là định ở Đà Lạt cả đời.
– Dạ, chắc vậy bác. Cháu quen lạnh rồi, xuống chỗ nóng là ốm.
Mẹ ừ một tiếng, gắp cho mình miếng rau muống. Cái tiếng ừ ấy, Nhụy biết, có nghĩa là mẹ vừa tính một phép tính: Đà Lạt cách Hà Nội một nghìn rưỡi cây số.
– Nhụy giỏi lắm bác ạ, – Bách nói, như để đổi chuyện. – Năm ngoái em ấy tìm ra cách xử lý bệnh thối gốc cho cả một khu nhà kính cúc, công ty khỏi phải dỡ đất thay mới, tiết kiệm mấy trăm triệu. Năm nay em ấy được giao làm trưởng nhóm bệnh học. Bên cháu ai cũng nể.
Mẹ nhìn con gái. Mẹ không biết chuyện ấy. Nhụy chưa bao giờ kể.
Thạc ngừng đũa. Anh nhìn cô, một cái nhìn rất ngắn, rồi cúi xuống bát cơm. Cô thấy quai hàm anh hơi bạnh ra, như người đang nhai một cái gì cứng. Bốn năm, anh không biết gì về công việc của cô. Cô cũng không biết gì về công việc của anh. Hai người ngồi cách nhau một cái mâm, và người kể cho anh nghe về cô là một người đàn ông khác. Nhụy ngồi giữa hai người đàn ông, ăn hết một bát cơm mà không biết mình vừa ăn gì.
Đến lượt canh cua, Thạc múc canh cho mẹ trước, rồi múc cho Nhụy. Anh múc cho cô một bát toàn cái, ít nước, đúng như cô thích, rồi mới nhận ra mình đang làm gì. Bàn tay cầm muôi của anh dừng lại giữa chừng. Rồi anh vẫn đặt bát canh trước mặt cô, như không có gì.
Bách nhìn bát canh. Anh không nói gì. Anh gắp một miếng đậu rán.
Ăn xong, Thạc chào mẹ, chào Bách, xách cặp lồng cháo lên trung tâm. Bách ngồi uống thêm chén chè rồi gọi xe về khách sạn. Nhụy tiễn anh ra đầu ngõ. Trước khi lên xe, Bách nói:
– Mai anh ở hội chợ cả ngày. Thứ Năm anh bay. Em cần gì thì nhắn anh.
– Dạ.
– Nhụy. – Anh đứng một chân trên bậc xe, quay lại. – Anh không hỏi em chuyện gì đâu. Em kể thì anh nghe.
Xe đi rồi, Nhụy không vào nhà ngay. Cô đi bộ lên mặt đê. Trên đê có một quán nước chè chén, cái bàn gỗ thấp, cái ấm tích to, cái đèn bóng tròn treo trên cành xoan. Ông Cả Tảo đang ngồi đấy, một mình, chén chè trong tay, điếu thuốc lào dựng bên cạnh.
– Con Nhụy, – ông gọi. – Ngồi đây. Bà Vui, cho nó một chén.
Cô ngồi xuống. Gió trên đê lạnh hơn dưới bãi. Ông Cả rít một hơi thuốc lào, nhả khói, nhìn ra phía sông tối đen.
– Cái thằng Đà Lạt ấy được đấy, – ông nói. – Lễ phép. Biết nghề.
– Ông thấy ạ?
– Cả bãi thấy. Mày dắt nó đi dọc mé sông, bãi này có ai mù đâu. – Ông cười khục khục. – Thằng Thạc chẻ hết củi bánh chưng nhà mày rồi đấy. Tết này lấy gì mà luộc.
Cô không cười. Ông Cả đặt chén chè xuống.
– Tao nói chuyện này, mày nghe thì nghe, không nghe thì thôi. – Ông nói chậm lại. – Bốn năm nay, tháng nào cũng thế, cứ đến ngày mùng bốn dương là thằng Thạc sang lều ngồi với bố mày. Ngồi đến tối. Lúc về, bố mày đưa cho nó một cái phong bì. Tao thấy mấy lần rồi. Có lần tao hỏi bố mày tiền gì, bố mày bảo tiền trả nợ.
– Thì bố cháu nợ anh ấy thật mà ông.
– Ừ. Nợ thật. – Ông Cả nhìn cô. – Nhưng mà trả nợ thì mỗi năm trả một lần sau Tết, giấy ghi rõ thế, tao làm chứng tao biết. Còn cái phong bì tháng nào cũng có thì tao không biết là tiền gì.
Ông rít thêm một hơi thuốc lào. Khói tỏa trắng dưới ngọn đèn.
– Mai là mùng bốn đấy, – ông nói. – Bố mày thì đang nằm kia. Tháng này ai đưa phong bì?
— Hết chương 6 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe