Chương 3: Hai nghìn một trăm gốc
Vết nhựa trên thân cây đào ở hàng sát sông màu hổ phách, đọng thành giọt to bằng hạt ngô, giọt cũ đã đông lại sẫm như kẹo lạc, giọt mới còn trong và dính tay.
Nhụy ngồi xổm, lấy móng tay cái gẩy thử một giọt. Nó bong ra, để lộ một vệt vỏ thâm, lõm xuống, mềm. Cô ghé mũi ngửi. Mùi chua, thoang thoảng như mùi cơm thiu.
– Cho tôi mượn dao.
Thạc đứng sau lưng cô, chưa nói câu nào từ lúc hai người đi dọc hàng đào. Anh rút con dao ghép cán sừng trong túi áo khoác ra, đưa cán về phía cô.
Cô nhìn con dao. Cả đời bố cô không cho ai cầm nó. Hồi bé cô lén lấy gọt bút chì, bị bố đánh hai roi vào bắp chân. Rồi tối ấy bố lại ngồi gọt hết cả hộp bút chì cho cô bằng chính con dao ấy, gọt nhọn đến mức viết gãy liên tục.
– Dao nhíp của anh đâu?
– Cùn rồi. Con này sắc nhất. Bố mài hôm thứ Hai, hôm trước khi ngã.
Cô cầm lấy. Cán sừng nhẵn bóng, có một chỗ lõm vừa khít ngón cái, chỗ ngón cái bố tì vào bốn chục năm. Tay cô nhỏ hơn, ngón cái không chạm tới chỗ lõm ấy.
Cô rạch nhẹ một đường qua chỗ vỏ thâm. Lớp vỏ ngoài tách ra dễ như bóc giấy ướt. Bên dưới, mô gỗ nâu sẫm, loang thành một mảng hình bầu dục dài gần một gang tay, mép mảng nâu có viền vàng nhạt, chỗ ấy nhựa ứa ra ngay.
– Loét chảy gôm, – cô nói. – Do nấm. Nó vào qua vết thương ở vỏ, gặp đất úng là phát. Mé này mùa lũ ngập mấy tuần?
– Tháng Tám ngập gần ba tuần. Tháng Chín ngập lại mười ngày.
– Thế thì đúng rồi. Rễ ngâm nước lâu, cây yếu, vỏ nứt. – Cô chỉ vào mấy vết xước cũ trên thân, chỗ dây kẽm buộc thế năm trước cứa vào. – Đây nữa. Buộc dây xong không tháo kịp, dây ăn vào vỏ, thành cửa cho nấm vào.
Thạc cúi xuống nhìn vết dây. Anh không cãi. Cô đã chuẩn bị sẵn để anh cãi.
– Chữa được không?
– Được, nếu chưa ăn vòng quanh thân. Cạo hết chỗ vỏ thối tới chỗ mô lành, quét thuốc gốc đồng lên, khơi rãnh cho đất thoát nước, rắc vôi quanh gốc, đừng tưới đẫm. Cây nào loét quá nửa vòng thân thì phải bỏ, để lại nó lây.
– Bố định phun thuốc trừ nấm. Bố mua về rồi, hai can, để trong lều.
– Phun bây giờ chỉ đẫm lá. Lá sắp tuốt rồi. Cái cần chữa là cái thân.
Thạc gật đầu.
– Thế thì làm theo em.
Cô đứng dậy, nhìn anh, chờ thêm một câu nữa. Một câu kiểu "nhưng mà" hay "để anh xem đã". Không có câu nào. Anh quay lại gọi thằng Lụt mang xẻng với cuốc ra.
Đến trưa, cô đi hết bốn hàng sát sông và đánh dấu được bảy mươi mốt cây có vết loét. Mười hai cây nặng, vết loét ăn hơn nửa vòng thân. Bốn cây không cứu được.
Rồi cô làm cái việc mà thằng Lụt bảo là "việc của người rỗi": đếm cây.
– Chị đếm làm gì, – thằng Lụt vừa đi theo vừa than. – Ông bảo hai nghìn mốt là hai nghìn mốt. Ông đếm bằng mắt còn đúng hơn máy.
– Thế thì đếm cho ông xem ông đúng.
Cô cầm cuộn băng dính vải, cây nào đếm rồi thì dán một mẩu lên cành thấp. Thằng Lụt đi hàng bên kia, đếm to như đọc kinh. Khu đào cành, khu đào thế, khu đào gốc để cho thuê, khu đào phai sát lều. Đến bốn giờ chiều, hai chị em gặp nhau ở cụ Mộc, cộng lại.
– Hai nghìn không trăm chín mươi bảy, – Nhụy nói.
– Thiếu ba cây á? – Thằng Lụt nhăn mặt nhẩm lại, rồi vỗ đùi. – À. Ba cây chết lũ năm ngoái ở mé bến. Ông chưa trồng bù. Ông bảo trồng bù thì phải trồng tháng Giêng.
– Thế là ông đúng hay sai?
– Thì ông đúng bằng mắt, sai bằng số.
Cô bật cười. Đó là lần đầu tiên cô cười từ hôm xuống máy bay. Thằng Lụt cũng cười, khoe cái răng khểnh, rồi nói nhỏ:
– Chị cười giống ông lắm.
Buổi chiều, cô dạy thằng Lụt pha thuốc.
Bột đồng sunfat bố cô có sẵn trong lều, một bao năm cân, xanh như muối mỏ. Cô bắt nó lấy hai cái thùng nhựa, không được dùng thùng sắt, một thùng hòa vôi tôi, một thùng hòa đồng. Rồi đổ từ từ thùng đồng vào thùng vôi, vừa đổ vừa khuấy, cho tới khi được một thứ nước sệt màu xanh lơ, mịn như sữa chua.
– Xanh như nước bể bơi, – thằng Lụt nói. – Quét lên cây trông như bị sơn đánh dấu ấy chị.
– Thì nó là dấu. Cây nào chữa rồi, nhìn là biết. Mưa ba bốn trận cũng chưa trôi hết.
Thạc cạo vỏ. Cô theo sau quét thuốc. Anh cạo đúng như cô dặn, cạo tới khi mô gỗ lộ ra màu trắng ngà, mép vết cạo vát nghiêng cho nước mưa khỏi đọng. Lâu lâu anh dừng lại, chỉ vào một chỗ, hỏi "chỗ này đủ chưa", cô nhìn rồi bảo "thêm một chút", anh cạo thêm một chút. Hai người làm việc như thế suốt ba tiếng đồng hồ, gần như không nói gì khác.
Cô nhớ hồi mới yêu nhau, hai người cũng làm với nhau như thế. Anh làm khóa luận thiết kế một khu vườn trên sân thượng khách sạn, cô làm khóa luận về bệnh héo xanh trên cây cà chua. Hai cái bàn ghép lại trong phòng trọ của anh ở Long Biên, mỗi người một đầu, một ấm chè, một cái quạt cây quay qua quay lại. Cả buổi tối không ai nói với ai câu nào, mà vẫn thấy vui.
Cô gạt cái ý nghĩ ấy đi, như gạt một con kiến bò lên tay.
Khi chỗ thuốc xanh cuối cùng được quét lên cây cuối cùng, mặt trời đã xuống thấp sau mấy tòa nhà bên kia đê. Dọc bốn hàng đào mé sông, bảy mươi mốt thân cây mang bảy mươi mốt vết xanh lơ, cái to bằng bàn tay, cái nhỏ bằng đồng xu. Nhìn từ xa giống như ai đó đi qua và đóng dấu lên từng cây.
Thạc rửa tay ở bể nước cạnh lều. Anh rửa kỹ, kỳ từng kẽ ngón như người làm phẫu thuật. Rồi anh đi lại chỗ cô, đưa cho cô cái khăn mặt.
– Bốn cây không cứu được, mai anh với thằng Lụt chặt. Đốt luôn chứ?
– Đốt. Đừng để gỗ nằm trong vườn.
– Ừ.
Cô lau tay. Cái khăn mùi xà phòng giặt quen. Cô ngờ ngợ nhận ra loại xà phòng ấy là loại mẹ cô dùng.
– Anh giặt khăn ở nhà tôi à?
– Mẹ giặt. Anh mang khăn lên, mẹ bảo để mẹ giặt luôn, máy giặt nhà mình to.
"Nhà mình". Anh nói hai chữ ấy rất tự nhiên, rồi nhận ra, và không sửa.
Ngày hôm sau là thứ Hai. Thạc với thằng Lụt chặt bốn cây đào bệnh từ sáng sớm, chất củi lên một góc bãi, đốt. Khói trắng bốc lên thẳng vì không có gió. Nhụy mang cặp lồng cháo lên viện cho bố, ngồi đút cho bố ăn được nửa bát.
Cô kể cho bố nghe chuyện mé sông, chuyện bảy mươi mốt cây, chuyện bốn cây phải chặt. Cô kể như kể cho một người đồng nghiệp, đủ số liệu, đủ tên bệnh. Bố nhìn cô, mắt trái chớp chớp. Đến chỗ cô bảo vườn chỉ có hai nghìn không trăm chín mươi bảy cây, khóe miệng bên trái của bố nhếch lên. Cô biết cái nhếch ấy. Đấy là cái cười của bố mỗi lần bị bắt quả tang ăn vụng chè đặc buổi tối.
– Bố biết thiếu ba cây đúng không?
Bố nhìn cô, rồi nói, chậm, như phải đẩy chữ qua một cái cửa hẹp.
– Thạc.
– Không phải anh ấy. Con hỏi bố.
– Thạc.
Mẹ ngồi ở đầu giường bên kia, đang khâu lại cái khuy áo của bố, không ngẩng lên. Nhụy lau miệng cho bố, đậy nắp cặp lồng, rồi lại xuống bãi lúc hai giờ chiều.
Ba giờ chiều, ông Tín đến.
Ông đi xe máy, có một cậu thanh niên chở. Xe dừng ngay cổng tre, cậu thanh niên ngồi lại trên xe, ông Tín bước vào. Ông khoảng ngoài năm mươi, người tròn, mặc áo khoác trần bông màu ghi, đi giày da mà vẫn bước trên đất bãi rất thoải mái, như người đã đi bãi nhiều.
Ông không hỏi ai. Ông đi thẳng tới cụ Mộc.
Nhụy đang ở khu đào thế, thấy thế thì bỏ cái kéo xuống, đi lại. Ông Tín đang đặt bàn tay lên thân cây, xoa xoa như xoa lưng một con trâu.
– Bác hỏi ai ạ?
Ông quay lại, cười. Cái cười rất rộng, rất sẵn.
– À, cháu là con gái anh Lự phải không? Cháu Nhụy. Chú nghe tiếng cháu lâu rồi, kỹ sư trên Đà Lạt. Chú là Tín, bên công ty cây cảnh ở đầu đê, chắc bố cháu có kể. Chú với bố cháu quen nhau hai chục năm rồi.
– Dạ. Bố cháu chưa kể.
Ông Tín vẫn cười, không chút ngượng.
– Bố cháu là thế, ít nói. Thôi chú vào thẳng việc, cháu bận. Nghe tin anh Lự ngã, chú lo quá. Viện phí, thuốc men, rồi tập phục hồi, toàn khoản dài hơi cả. Cái vườn thì sắp vào vụ, cháu thì về đột xuất. Chú muốn đỡ cho nhà mình một tay. – Ông vỗ vỗ vào thân cụ Mộc. – Cây này, chú trả ba trăm năm mươi triệu. Tiền mặt, trong ngày. Bên chú lo cẩu, lo sà lan, lo bứng, nhà mình không phải động tay. Cả bãi này không ai trả được giá ấy đâu cháu.
Ba trăm năm mươi triệu. Cô nghĩ đến con số sáu trăm chín mươi. Cô nghĩ đến số tiền hơn bốn trăm trong tài khoản. Cộng lại thì thừa.
– Không bán.
Giọng Thạc vang lên sau lưng cô. Anh đang đi từ phía đống củi cháy lại, áo còn ám khói, tay cầm cái rìu.
Ông Tín nhìn anh. Cái cười trên mặt ông nhỏ đi một chút nhưng không tắt hẳn.
– Anh Thạc. Anh vẫn ở đây à? Tôi cứ tưởng anh với nhà này hết duyên lâu rồi.
– Hết duyên thì vẫn còn nợ, – Thạc nói. – Cây này bố không bán. Bố nói với anh ba lần rồi.
– Anh Lự nói, tôi nhớ. Nhưng giờ anh Lự nằm đấy. – Ông Tín quay sang Nhụy, giọng mềm lại. – Mà cây là của nhà cháu. Cháu là con gái. Cháu quyết chứ.
Nhụy nhìn Thạc. Anh đứng cách cô ba bước, rìu chống xuống đất. Anh không nhìn cô. Anh nhìn ông Tín.
– Cây này bán hay không là nhà tôi quyết, – cô nói, và nghe giọng mình sắc hơn cô định. – Không phải anh.
Thạc không đáp. Anh quay lưng, đi về phía đống lửa, rìu xách bên người.
Ông Tín rút trong túi áo ra một tấm danh thiếp, đặt vào tay cô. Tấm danh thiếp dày, ép kim, góc có hình một cành đào cách điệu.
– Cháu cứ nghĩ đi. Không vội. Nghĩ xong thì gọi chú. Chú trả tiền mặt, trong ngày.
Ông đi rồi, Nhụy đứng một lúc dưới gốc cụ Mộc, tấm danh thiếp trong tay. Cô nhìn lên những cành đào già uốn khúc, lá đã thưa, chỗ mắt cành có những u nụ còn nhỏ như hạt gạo. Năm nào cây này cũng nở muộn nhất vườn, đúng sáng mùng một, như thể nó biết.
Cô cất tấm danh thiếp vào túi quần.
— Hết chương 3 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe