Chương 32: Chợ hoa đêm
Cái ổ khóa lại treo trên cổng rào, to bằng nắm tay, mới tinh, còn dính giấy dán của cửa hàng.
Sáu giờ sáng, bến đò đã có một chiếc sà lan nhỏ cập sát bờ, máy nổ tạch tạch. Người lái sà lan đứng trên mũi, khoanh tay, hút thuốc. Bên này cổng rào, bốn mươi cây đào gốc đã được bứng từ hôm qua, bầu đất bọc bao tải, buộc dây, xếp hàng trên mấy cái xe cải tiến, nụ đã hé hồng sau ba ngày thúc. Khách sạn bên hồ hẹn nhận hôm nay. Hợp đồng ghi rõ ngày giao: hai mươi mốt tháng Chạp. Một trăm triệu.
Ông Tín đứng bên kia cổng rào, áo khoác trần bông màu ghi, hai tay đút túi.
– Đất của tôi, – ông nói, giọng vẫn ngọt như mọi khi, nhưng ngọt như đường đã cháy. – Phường chưa có văn bản gì gửi tôi. Tôi khóa đất tôi.
Thằng Lụt đứng bên này, mặt đỏ gay, môi còn cái vết rách cũ.
– Ông khóa đúng hôm nhà cháu giao cây!
– Thì cháu đi đường khác.
Không có đường khác. Muốn ra bến mà không qua cái cổng này thì phải khiêng bốn mươi cây đào gốc vòng qua ba vườn nhà người ta, mỗi cây hai người khiêng, mất cả ngày. Sà lan thì người ta không đợi cả ngày.
Nhụy không cãi. Cô rút điện thoại, gọi cho cô cán bộ địa chính phường, người đeo kính đã xuống bãi đo đường hồi tháng Mười Một. Cô ấy nghe máy lúc sáu giờ mười, giọng còn ngái ngủ, nghe xong thì tỉnh hẳn.
– Ông ấy bảo chưa có văn bản à chị? – Cô cán bộ nói. – Văn bản yêu cầu tháo dỡ phường gửi từ thứ Hai tuần trước. Có người ký nhận. Em có bản sao ngay đây. Chị đợi em, em xuống.
Bảy giờ, cô cán bộ xuống. Đi cùng cô là anh công an lớn tuổi đêm hôm ấy, và một cậu công an trẻ.
Bảy giờ mười lăm, ông Cả đến. Ông không đến một mình. Sau ông là ông Bảy đầu bãi, là bà Hợi chống gậy, là mấy chục người của hai mươi ba hộ đã ký vào lá đơn hôm nào. Người cầm cuốc, người xách giỏ, người còn mặc nguyên quần áo ngủ, quấn khăn len. Không ai to tiếng. Họ chỉ đứng đấy, dọc con đường đất, nhìn cái ổ khóa.
Ông Tín nhìn đám người ấy. Cái cười trên mặt ông nhỏ dần.
Cô cán bộ địa chính rút trong cặp ra một tờ giấy, đọc to. Giọng cô nhỏ nhưng rõ. Phường đã kiểm tra hiện trạng, đã làm việc với các bên, đã có kết luận. Hàng rào dựng trên đất bãi sông không đúng quy định về đê điều, yêu cầu chủ sử dụng đất tự tháo dỡ trong thời hạn. Con đường đất ra bến là lối đi chung các hộ đã sử dụng ổn định nhiều năm, đề nghị giữ nguyên hiện trạng trong khi chờ giải quyết tiếp. Cuối tờ giấy có chữ ký nhận, ngày nhận.
– Chữ ký này của ai ạ? – cô cán bộ hỏi, chìa tờ giấy về phía ông Tín.
Ông Tín nhìn tờ giấy. Ông không trả lời.
Anh công an lớn tuổi bước lên một bước.
– Ông Tín. Nhân tiện tôi nói luôn để ông nắm. Hai người đêm mười hai tháng Mười Hai cưa cây ở đây, chúng tôi xác định được rồi, qua cái thuyền máy. Cậu giữ cổng nhà ông cũng đã khai đêm ấy ai bảo cậu để cổng mở. – Anh nói đều đều, không cao giọng, như đọc biên bản. – Việc ấy chúng tôi làm theo quy định, sẽ mời ông lên làm việc tiếp. Còn bây giờ, ông mở cổng cho bà con.
Ông Tín đứng im rất lâu. Gió bấc thổi qua bãi, rét căm căm. Mấy chục người dọc con đường đất không ai nói gì. Bà Hợi đứng chống gậy, cái mắt kéo màng nheo nheo nhìn ông.
Rồi ông Tín rút trong túi áo ra một chùm chìa khóa. Ông không tự mở. Ông đưa chùm chìa khóa cho cậu công an trẻ, quay người, đi thẳng về phía mặt đê. Không ngoái lại.
Cậu công an mở khóa. Cái cổng rào lưới B40 kêu ken két, mở ra.
Thằng Lụt đẩy cái xe cải tiến đầu tiên qua cổng. Nó không đi chậm cố tình như hôm nào. Nó đi nhanh, gần như chạy, và khi bánh xe lăn qua cái chỗ ngày trước là ổ khóa, nó hét lên một tiếng không thành chữ, như người vừa ghi bàn.
Ông Cả đứng ở cổng, khoanh tay, cười khùng khục.
– Đi nhờ, – ông nói. – Đi nhờ đường nhà mình.
Đến mười giờ, bốn mươi cây đào gốc đã lên sà lan. Đến chiều, khách sạn chuyển nốt số tiền còn lại. Đến hôm sau, có mấy người thợ của ông Tín ra tháo hàng rào, cuộn lưới, nhổ cột. Không ai trên bãi ra xem. Không ai cần xem.
Đêm hai mươi hai tháng Chạp, chợ hoa.
Sạp của mẹ ở dãy thứ ba tính từ cổng chợ, ô thứ mười một, cái ô mẹ đã bán bốn mươi năm. Ban quản lý chợ có chia lại ô thế nào thì cái ô ấy vẫn để cho bà Nhàn bãi Lũng Hồng. Thạc dựng sạp từ chiều: khung tre, bạt che, mấy cái xô nhựa to đổ đầy nước. Đào cành chở từ bãi lên lúc bốn giờ, xếp đứng trong xô, cành nào cũng nụ hồng căng mọng, hé dăm bông.
Chợ hoa đêm tháng Chạp không giống chỗ nào khác. Đèn bóng tròn treo trên những sợi dây chăng ngang lối đi, vàng ấm. Đào xếp thành rừng hai bên, đỏ, hồng, trắng, phai. Quất bày thành hàng, quả vàng lúc lỉu. Người đi chợ chen nhau, hơi thở thành khói, tiếng mặc cả, tiếng gọi nhau, tiếng xe máy chở cành đào nghiêng ngả len qua đám đông. Mùi nhựa đào mới cắt, mùi đất, mùi hương trầm ai đó thắp ở góc chợ.
Mẹ ngồi trên một cái ghế đẩu ở góc sạp, quấn hai lớp chăn, đội mũ len. Thạc bắt mẹ ngồi đấy, không cho đứng. Mẹ bảo mẹ không bán, mẹ ngồi nhìn thôi. Nhưng người đi chợ thấy bà Nhàn thì dừng lại.
– Ôi bà Nhàn. Bà ốm dậy rồi à. Năm nay đào nhà bà thế nào?
– Đào thúc ba ngày, – mẹ nói. – Mùng một nở đúng. Cành này bảy trăm.
– Đắt thế bà.
– Đắt thì đi chỗ khác. Đi một vòng rồi quay lại, cành này vẫn bảy trăm.
Người ta đi một vòng rồi quay lại thật. Cành ấy bảy trăm.
Nhụy bán. Cô không quen bán. Cô quen đếm nụ, quen đo nhiệt độ, không quen mặc cả. Khách hỏi giá, cô nói giá. Khách trả xuống, cô không biết trả lên. Mẹ ngồi ở góc nhìn, lắc đầu, rồi gọi giật:
– Cô Thoa. Cô bán đi. Con này nó bán đào như bán thuốc trừ sâu.
Thoa đứng ở cuối sạp, xếp cành vào xô từ chiều, không dám ra trước. Nghe mẹ gọi, chị ta ngẩng lên, rồi bước ra.
Và Nhụy hiểu vì sao năm nào bố cũng cho cái sạp góc chợ ấy lấy đào. Thoa bán đào như người kể chuyện. Chị ta cầm một cành lên, xoay cho khách xem, chỉ vào từng cái nụ: nụ này mùng một nở, nụ này mùng hai, nụ này để đến rằm. Chị ta bảo khách cắm nước ấm, cắt vát gốc, đừng để cạnh lò sưởi. Giọng miền Tây nhỏ nhẹ, chậm rãi, không ép ai. Người ta mua. Mua hai cành, ba cành.
Ở ô sạp bên cạnh là bà bán hoa hôm nọ, cái bà đã kể với mẹ chuyện "con riêng của thằng Thạc". Bà ta đang đứng nhìn sang. Nhìn Thoa đứng bán đào ở sạp bà Nhàn. Nhìn bà Nhàn ngồi ở góc. Bà ta không nhịn được.
– Bà Nhàn ơi, – bà ta gọi, giọng to, cố ý cho cả dãy nghe. – Cô kia là ai mà bán hàng cho bà đấy?
Cả dãy sạp ngoái lại. Thoa đứng sững, cành đào trong tay.
Mẹ không đứng dậy. Mẹ ngồi trên cái ghế đẩu, hai tay đặt trên đùi, nhìn sang bà hàng xóm.
– Cô Thoa, – mẹ nói, cũng to, to y như thế. – Cô Thoa bán hàng cho tôi. Có gì không?
Bà bán hoa há miệng, rồi ngậm lại. Cả dãy sạp im một giây, rồi tiếng chợ lại ồn lên như cũ.
Thoa quay đi, lấy mu bàn tay quệt mắt. Rồi chị ta quay lại, cầm cành đào, xoay về phía một ông khách đang đứng chờ.
– Dạ chú coi nè. Nụ này mùng một nở…
Thằng Su ngủ gục trên đống bao tải ở sau sạp, năm cái áo, cái mũ len kéo xuống tận mũi. Thạc đắp thêm cho nó cái áo khoác bộ đội của bố. Anh đứng ở sau sạp, khiêng cành từ xe xuống, xếp vào xô, đổ thêm nước, không bán cành nào. Lâu lâu anh ngẩng lên nhìn ra phía trước sạp, nhìn mẹ ngồi ở góc, nhìn Thoa bán đào, nhìn Nhụy ghi sổ thu tiền. Nhụy bắt gặp cái nhìn ấy mấy lần. Mỗi lần như thế, anh lại cúi xuống xô nước.
Hai giờ sáng, chợ vãn. Những cái bóng đèn trên dây chăng ngang tắt dần từng dãy. Người bán hoa cuộn bạt, xếp xô. Lá đào, cành gãy, giấy gói rải đầy lối đi.
Sạp của mẹ còn lại chín cành. Chín cành trên hơn ba trăm cành chở lên từ chiều.
Nhụy ngồi bệt xuống đất sau sạp, cạnh thằng Su đang ngủ, mở điện thoại. Cái bảng tính của cô có thêm một trang mới từ hôm bắt đầu thúc đào: "Vụ Tết Đinh Mùi". Cô gõ vào số tiền đêm nay. Rồi cộng với số tiền khách sạn thuê bốn mươi cây. Rồi cộng với số đào thế khu bên Thạc đã có người đặt. Rồi cộng với số đào gốc cho các nhà khác thuê chơi Tết. Trừ đi tiền phân, tiền công thợ, tiền lưới, tiền nilon, tiền bóng đèn, tiền máy phát, tiền điện. Trừ đi những ngày còn lại chưa bán, cô tính phần đào cành dưới mức, phòng khi đào nở chậm.
Con số cuối cùng hiện lên. Cô nhìn nó rất lâu.
Thạc ngồi xuống cạnh cô. Anh nhìn màn hình.
– Bao nhiêu?
– Nếu từ giờ đến hai tám bán được như em tính, – cô nói, – lãi ròng cả vụ khoảng bảy trăm mười hai triệu.
Anh không nói gì. Anh nhìn con số. Rồi anh nhìn cô.
Năm Giáp Thìn, vườn nhà này mất mùa, gánh một khoản nợ chín trăm triệu. Năm nay, tuốt muộn năm ngày, hãm ba đêm, thúc ba đêm, chữa sáu mươi bảy cây gôm, giữ được một con đường ra bến.
Mẹ ngồi trên ghế đẩu, nhìn hai đứa ngồi bệt sau sạp. Mẹ không hỏi con số. Mẹ chỉ nói, giọng khàn vì gió đêm:
– Sáng ra là hai mươi ba rồi. Cúng ông Công ông Táo. – Mẹ kéo cái chăn lên vai. – Bảo cô Thoa với thằng Su sang nhà ăn cơm.
— Hết chương 32 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe