Chương 9: Con gái bà mụ
– Phải hông?
Lộng hỏi cô, không hỏi cha. Anh vẫn đứng một chân trên mạn tàu, một chân trên cầu cảng, như người chưa quyết được nên lên hay xuống.
Cả cầu cảng im. Tiếng sóng vỗ vào chân cột bê tông nghe rõ từng nhịp. Có một con chim biển đậu trên cột ăng ten của chiếc tàu bên cạnh, kêu một tiếng chói tai rồi bay đi.
Tường Lam có thể nói dối thêm một lần nữa. Cô đã nói dối ở cảng cá Quy Nhơn, ở nhà Út Nhớ, ở hiên trạm đêm rằm. Nói thêm một lần, có lẽ cũng không ai bắt được. Nhưng cô nhìn vào mặt anh, và cô biết là không được.
– Phải. – Cô nói. – Má em là Lê Thị Huyên.
Ông Thới gầm lên một tiếng không thành chữ. Lộng nhảy xuống cầu cảng. Anh không nhìn cô. Anh đi thẳng tới chỗ cha, nắm lấy cánh tay ông, nắm chặt, không mạnh, nhưng không cho giằng ra.
– Về nhà ba.
– Mầy buông tao ra! Tao chưa nói xong…
– Về nhà. – Anh lặp lại.
Anh dìu cha đi, bước chậm theo nhịp cây gậy, xuyên qua đám đông đang dạt ra hai bên. Cô Út Gấm đi theo sau, không ngoái lại. Tường Lam đứng đó, nhìn ba cái lưng xa dần, cho tới khi họ khuất sau dãy quán đầu cầu.
Có một bàn tay nắm lấy tay cô. Bà Sáu. Bà vẫn chưa buông ra từ lúc nãy. Bàn tay bà ướt nước mắt và nhớp mỡ xôi.
– Con về nghỉ đi con. – Bà nói nhỏ, chỉ đủ cho cô nghe. – Thức cả đêm rồi.
Rồi bà buông tay, cúi xuống ôm lại cái nồi xôi, đi về phía bến tàu khách để kịp chuyến bảy giờ vào thăm chồng. Bà không nói thêm câu nào khác.
Sáng thứ Ba, trạm y tế không có một bệnh nhân.
Tường Lam ngồi trong phòng khám từ bảy giờ. Cô đã tắm, đã thay áo, đã uống một ly cà phê pha bằng gói ba trong một. Băng ghế dài ngoài hiên trống trơn. Bảy giờ rưỡi, một ông cụ đi ngang cổng, nhìn vào, rồi đi tiếp. Tám giờ, hai bà đi chợ về dừng lại ngoài hàng rào, chụm đầu vào nhau nói gì đó, chỉ trỏ về phía hiên trạm, rồi cũng đi.
Ri tới lúc tám giờ hai mươi. Mắt Ri sưng húp. Ri đặt cái giỏ xuống, không chào, đi thẳng vào phòng sinh, bắt đầu lau cái bàn sinh đã sạch bóng từ chiều qua.
Tường Lam đứng ở cửa.
– Ri.
– Chị giấu em. – Ri nói, tay vẫn lau, lau mạnh tới mức cái bàn inox kêu ken két. – Em kể hết chuyện nhà em cho chị. Chuyện má em, chuyện anh Vững, chuyện em sợ đỡ đẻ ngôi mông. Còn chị giấu em.
– Chị xin lỗi.
Ri ném cái giẻ xuống chậu nước. Rồi Ri quay lại, và cô thấy Ri đang khóc.
– Em mới là người phải xin lỗi chị. – Ri nói, nước mắt chảy ròng ròng. – Bữa em vô phòng chị đem đồ giặt, em thấy cuốn sách cũ để trên bàn, bìa xanh, em lật ra coi chơi. Trang đầu ghi "Lê Thị Huyên, Hòn Trầu, 1993". Trong đó kẹp tấm hình trạm xá mình hồi xưa. Em tưởng chị là cháu của ai đó quen cô mụ hồi xưa, em đâu có biết. Em đem kể với cô Út Gấm, tại cô Út hỏi em hoài về chị, em kể chơi chơi… Em đâu có biết…
Tường Lam ôm lấy Ri. Ri khóc nấc trên vai cô, nước mắt thấm ướt cả áo blouse.
– Không phải lỗi em. – Cô nói. – Chị mới là người để sách trên bàn.
– Má em biểu em nghỉ làm ở trạm một tuần. – Ri nói qua tiếng nấc. – Má nói đợi cho êm.
– Rồi em tính sao?
Ri buông cô ra, lau mặt bằng mu bàn tay, cầm cái giẻ lên lại.
– Em ở. – Ri nói. – Em làm cho trạm, chớ đâu phải làm cho chị. Lỡ có người đẻ thì sao.
Chú Cang tới lúc chín giờ. Ông không nói gì về chuyện ở cầu cảng. Ông ngồi vào bàn, mở cái sổ bìa xanh, ghi chép, pha trà, uống trà, như mọi ngày. Anh Thái ở trong kho thuốc kiểm đếm, lúc đi ngang qua cô thì nhún vai, nói nhỏ: "Chuyện mấy chục năm rồi, mắc gì người ta làm dữ dị. Người đảo là dị đó bác sĩ, giận lâu, rồi cũng quên."
Cả ngày thứ Ba có đúng một bệnh nhân. Một bà già bên Gành Đen, mắt kém, tai lãng, đi tàu khách sang Bãi Nồm thăm con gái, ghé trạm xin thuốc nhỏ mắt. Bà không biết gì về chuyện sáng nay. Bà cảm ơn cô ba lần.
Thứ Tư cũng vậy. Một người đàn bà bế đứa con sốt đi ngang qua cổng trạm, ngập ngừng một giây, rồi bế thẳng ra tiệm thuốc tây ở góc chợ. Một chiếc xe máy chạy ngang, có ai đó trên xe la vọng vào: "Con mụ Huyên!", rồi tiếng cười hô hố tan vào tiếng máy xe. Út Nhớ không ra quán. Tường Lam đi bộ ngang qua, thấy cửa quán đóng, chỉ có thằng Su ngồi chồm hổm trên bậc thềm chơi với con cua Bốn Càng. Thằng nhỏ thấy cô, giơ bàn tay còn dán miếng băng nhỏ lên vẫy. Rồi có tiếng ai đó gọi nó vào nhà.
Sáng thứ Năm, Tường Lam mở cửa trạm thì thấy trên mấy bậc tam cấp đầy những mảnh thủy tinh đỏ.
Bóng đèn ngoài hiên bị đập vỡ. Chỉ còn cái đui đèn trơ trọi trên tường, dính lại một mảnh vỏ đỏ sắc như răng cá. Dưới chân cột cờ có một cục đá cỡ nắm tay.
Cô đứng nhìn một lúc. Rồi cô vào lấy cây chổi với cái hốt rác.
Lúc cô đang cúi xuống quét những mảnh vụn cuối cùng thì thấy chú Cang đứng ở cổng. Ông vừa tới, xe đạp còn chưa dựng. Ông nhìn cái đui đèn trống, nhìn đống thủy tinh trong cái hốt rác, nhìn cô. Ông mở miệng, rồi lại thôi. Ông dắt xe vào, dựng xe, đi vào trong, không nói một lời.
Tối thứ Năm, Lộng tới.
Anh không vào trạm. Anh đứng ngoài hàng rào, dưới gốc bàng, cho tới khi cô thấy và đi ra. Anh mặc cái áo sơ mi bạc màu, tóc ướt như vừa tắm, mặt hốc hác như ba đêm không ngủ.
– Đi với tui một chút.
Họ đi bộ ra khoảnh đất trống mọc đầy cây dương, chỗ ngày xưa là trạm xá. Gió đêm rít qua lá dương thành một tiếng hú dài và buồn. Trăng hai mươi lăm chưa lên. Trời tối, chỉ có ánh đèn từ mấy chiếc tàu neo ngoài vũng hắt vào.
Anh đứng quay lưng ra biển.
– Cô biết. – Anh nói. Anh gọi cô là "cô". Cô nghe rõ chữ đó, như nghe một cánh cửa đóng lại. – Cô biết hết từ đầu mà cô hổng nói.
– Em không biết hết. – Cô nói. – Em chỉ biết má em từng làm bà mụ ở đây. Em chỉ biết má em có một chuyện buồn ở đây mà không bao giờ kể. Em không biết chuyện đó là chuyện gì. Em không biết nó liên quan tới nhà anh.
– Cô nói dối tui ở cảng. Cái vòng. Chợ Đông Ba.
– Dạ.
– Cô nói dối cô Út, nói má cô ở nhà nội trợ.
– Dạ.
Anh im một lúc lâu.
– Sao cô ra đây?
Và cô kể. Kể hết. Kể về cái kiệt nhỏ gần chợ Bến Ngự, về cái đèn đỏ ngoài hiên, về người mẹ chưa bao giờ nói về cái đảo mình sinh ra. Kể về những ngày cuối ở bệnh viện, về cái đêm gần sáng mẹ mở mắt nhìn lên trần nhà. Kể về tấm ảnh, cuốn sách, cái vòng cước tháo ra từ cổ tay một người đã chết. Kể cả việc cô cố tình xin vào bệnh viện tỉnh này, cố tình đổi lượt với một đồng nghiệp để được ra đúng cái đảo này.
– Má em nói hai câu. – Cô nói. – Câu thứ nhất: "Gấm ơi, cột chân nó cho chặt". Câu thứ hai: "Chị không bỏ chị Mến. Chị không bỏ".
Lộng quay phắt lại.
– Mến?
– Dạ.
– Má tui tên Mến. – Anh nói. – Trương Thị Mến.
Cô đã đoán. Từ cái sáng ở cầu cảng, khi ông Thới gào lên "con mụ bà mụ làm chết vợ tui", cô đã đoán. Nhưng nghe anh nói ra cái tên đó, ở đây, giữa hàng dương nơi mẹ cô từng đứng chụp ảnh, nó vẫn như một cú đấm vào ngực.
– Bả nói bả không bỏ má tui. – Lộng nói chậm, từng chữ. – Mà má tui chết.
– Em không biết đêm đó chuyện gì xảy ra. – Tường Lam nói. – Em về đây để biết. Em không về đây để bào chữa cho má em. Nếu má em có lỗi, em muốn biết má em có lỗi gì. Nếu má em không có lỗi…
Cô không nói hết câu. Anh cũng không hỏi tiếp.
– Còn Gấm. – Anh nói. – Gấm nào?
Tường Lam im lặng. Trong đầu cô hiện lên cái mâm canh rớt xuống nền gạch, cái hũ thủy tinh biển trên bậu cửa sổ, đôi mắt dưới quầng đèn đỏ hỏi "Ai cho cô?". Cô có thể nói. Cô có thể nói "Em nghĩ là cô Út của anh". Nhưng cô không có gì ngoài một cái hũ chai bể, một cái mâm rớt, một cái nút thắt. Và cô nhìn vào mặt anh, cái mặt đang cố đứng vững trên một mặt đất vừa nứt toác ra, và cô không nỡ đập thêm một nhát.
– Em không biết. – Cô nói.
– Trên đảo có ba bà tên Gấm. – Anh nói, như nói với chính mình. – Cô Út tui. Bà Gấm bán muối, chết rồi. Con Gấm con bà Tám, đi Sài Gòn mười mấy năm nay.
Anh im. Gió thổi mạnh hơn. Một trái dương khô rơi xuống, lăn trên cát dưới chân hai người.
– Má tui chết đêm đó. – Lộng nói. Giọng anh không lên, không xuống. Bằng phẳng như mặt nước trước cơn giông. – Ba mươi năm nay tui lớn lên với cái đêm đó. Tui hổng biết mặt má. Tui chỉ biết má chết lúc gà gáy, trong cái nhà ba gian đó, trên cái giường đó, và người phải ở đó thì hổng có ở đó.
– Em biết.
– Cô hổng biết. – Anh nói. Rồi anh thở ra, một hơi rất dài. – Tui xin lỗi. Tui hổng có ý…
Anh không nói hết. Anh quay người, đi về phía xóm, bước nhanh, bóng anh lẫn dần vào bóng mấy dãy nhà tối om. Tường Lam đứng lại giữa hàng dương. Cô không gọi anh. Cô biết có những lúc gọi một người lại là bắt người đó phải quay về với một vết thương còn chưa kịp băng.
Tối thứ Sáu, trạm không có ai tới khám, cũng không có đèn. Tường Lam đã mua được một bóng đèn đỏ mới nhờ người gửi theo tàu khách, nhưng cô chưa gắn. Cô không biết gắn rồi sáng mai có lại phải quét thủy tinh hay không.
Mười giờ đêm, cô đi ra hiên định đóng cửa thì thấy chú Cang.
Ông ngồi một mình trên băng ghế dài, trong bóng tối, chỗ mà ngày thường các ông các bà ngồi đợi đo huyết áp. Ông không bật đèn. Trên tay ông là cái ca trà quen thuộc, đã nguội từ lâu. Ông ngồi im như một bức tượng, mặt hướng về phía khoảnh đất mọc đầy cây dương.
– Chú chưa về hả chú?
Ông không trả lời ngay. Cô ngồi xuống đầu bên kia băng ghế. Một lúc lâu, chỉ có tiếng sóng, tiếng gió, tiếng con tắc kè trên mái.
– Năm chín sáu, chú hai mươi bảy tuổi. – Chú Cang nói. Giọng ông khàn, nhỏ, như lâu lắm rồi không dùng tới. – Chú làm y tá ở trạm xá. Cô Huyên làm bà mụ. Hai cô chú làm chung ba năm.
Tường Lam không dám thở mạnh.
– Hôm con treo cái đèn đỏ, chú biết. – Ông nói. – Hôm chú thấy con gõ tay lên đùi đếm nhịp thở con bé Mắm, chú biết chắc. Cô Huyên đếm y như vậy. Ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út, ngón út. Chú chưa từng thấy ai đếm như vậy nữa.
Ông xoay cái ca trà trong hai bàn tay.
– Đêm đó, – chú Cang nói, – chú là người đi kêu cô Huyên. Và chú kêu không được.
— Hết chương 9 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe