AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Tên của cô mụ Huyên

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 34/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 34: Tên của cô mụ Huyên

– Má biết hông? Ba chục năm má biết hông?

Thằng Vững nằm quay mặt vào vách, cánh tay băng trắng gác trên ngực. Giọng nó khàn, nhỏ, không phải giọng thằng con trai to như cái tủ lạnh hay cười hô hố. Bà Sáu ngồi bên giường, bàn tay lành đặt trên lưng nó.

– Má biết cô mụ Huyên báo. – Bà Sáu nói. – Má hổng biết má ruột con là ai. Má hổng hỏi. Má sợ hỏi.

– Còn bả. – Thằng Vững nói. – Bả biết. Ba chục năm bả đứng đó nhìn con. Bả cho con cái bánh. Bả chửi con là thằng mập. Bả đưa tiền cho ba nói tiền hụi. Bả biết hết.

Bà Sáu không trả lời. Bà vuốt lưng nó, vuốt mãi.

Tường Lam đứng ở cửa phòng lưu, tay cầm khay thuốc thay băng. Cô đợi một lúc rồi mới bước vào. Thằng Vững không quay ra. Cô thay băng vết phỏng cho nó, nhẹ tay, từng lớp. Nó cắn răng, không kêu, không nhìn. Lúc cô băng xong, nó mới nói, vẫn nhìn vào vách:

– Chị Hai biết hồi nào?

– Tháng Sáu. – Cô nói. – Đêm má em té.

– Rồi chị hổng nói.

– Không. Đó là chuyện cô Út nói.

Thằng Vững im rất lâu.

– Em hổng muốn gặp bả. – Nó nói. – Chị nói bả đừng tới.

Cô Út không tới. Cô Út về Gành Đen từ trưa hôm đó, sau khi bà Sáu buông tay cô Út ra trên bậc tam cấp. Người ta dạt ra cho cô Út đi. Không ai nói gì với cô Út. Không ai chửi. Không ai an ủi. Người ta chỉ dạt ra, như nước dạt ra hai bên mũi một chiếc ghe.

Nhưng sau lưng cô Út, cả cái đảo nói.

Chiều hôm đó, đêm hôm đó, sáng hôm sau, cả cái đảo nói. Ở chợ, ở quán, ở cầu cảng, ở những mái nhà đang được lợp lại sau bão. Ri đi chợ về kể, kể không ra hơi. Có người nói con Gấm ác. Có người nói con Gấm tội. Có người nói hồi đó nó mười bảy tuổi, nó biết gì. Có người nói mười bảy tuổi biết bịa chuyện hại người thì biết đủ rồi. Bà Tư Hoa đứng giữa chợ, chửi một bà bán cá vì bà kia nói "con Gấm đáng bị đuổi khỏi đảo", chửi xong bà Tư Hoa ngồi xuống bậc thềm chợ, khóc, nói "Ba chục năm tui chửi cô mụ Huyên. Ba chục năm. Tui đi xin lỗi ai bây giờ".

Ông Tư Rớt thì chỉ nói một câu, nói với ai hỏi ông: "Tui nói rồi. Tui hổng tin. Mà tui già, hồi đó ai nghe."

Sáng thứ Ba, mười lăm tháng Chín, biển vẫn còn động, chưa có tàu khách. Hôm nay là ngày cuối cùng của năm luân phiên.

Tường Lam gọi điện cho phòng tổ chức của viện lúc tám giờ sáng. Cô nói ngắn. Cô xin rút hồ sơ đi học. Cô xin ở lại trạm y tế xã đảo Hòn Trầu. Không phải luân phiên. Ở lại.

Đầu dây bên kia im một lúc lâu. Chị trưởng phòng hỏi em chắc không, suất học đó nhiều người muốn lắm. Cô nói em chắc. Chị trưởng phòng nói chuyện này phải đưa lên giám đốc, phải làm văn bản, phải có ý kiến của xã. Cô nói dạ, em biết, em làm.

Rồi cô gọi cho ba.

Chuyện cô Út đứng trên bậc tam cấp nói trước làng, cô đã kể ba nghe từ tối hôm trước, kể trọn, từ cái chòi lưới tới cái vòng chân dưới đáy rương. Ba nghe hết, không ngắt lời câu nào. Nghe xong, ba im rất lâu, rồi chỉ nói: "Rứa là má con giữ được. Giữ tới cùng." Rồi ba cúp máy, và cô biết ba đang ngồi một mình ngoài hiên nhà mình ở Huế.

Sáng nay cô gọi lại.

– Con xin ở lại, ba. – Cô nói. – Con không đi học năm nay. Mai mốt có suất khác thì con học, học xong con về đây. Còn năm nay, đảo không có ai.

Ông Thuần im lặng rất lâu. Cô nghe tiếng ông thở, nghe tiếng mưa trên mái tôn nhà mình ở Huế.

– Con ở lại vì thằng đó? – Ông hỏi.

– Không phải, ba. – Cô nói. Rồi cô sửa lại. – Không phải chỉ vì ảnh.

Ông im thêm một lúc.

– Thứ Bảy ba ra. – Ông nói.

Chiều thứ Tư, ông Năm Thới làm một việc mà không ai trên đảo nghĩ ông sẽ làm.

Lăng Ông mở cửa cho bà con vào thắp nhang tạ ơn sau bão, như lệ mỗi năm. Sân lăng đông người. Ông Thới chống gậy đi vào, thắp ba nén nhang, lạy ba lạy. Rồi ông không đi ra. Ông đứng quay lưng lại hương án, nhìn xuống cái sân đầy người.

– Bà con. – Ông nói. – Tui là Thới. Bữa trước em gái tui nói chuyện của nó. Giờ tui nói chuyện của tui.

Ông kể. Kể ngắn, cộc, không thêm thắt. Chiều hai mươi tháng Mười năm chín sáu. Cái tàu mới mua. Lệnh cấm biển. Vợ níu tay ở cửa. Vũng Hang Rái. Sợi dây neo. Sáu giờ sáng đi bộ về, vợ đã đắp chiếu.

– Đêm đó tui hổng có ở nhà. – Ông nói. – Người hổng có ở nhà là tui. Ba chục năm tui đổ lên đầu cô mụ Huyên, vì tui hổng chịu nổi cái đó. Tui đánh thằng Cang gãy răng vì nó nói thật. Tui sai. Má tui biết, má tui im vì tui là con bả. Giờ má tui đi rồi. Tui hổng để ai im giùm tui nữa.

Ông chống gậy, đi xuống bậc thềm lăng. Người ta dạt ra cho ông đi. Ở cổng lăng, chú Cang đứng đợi. Hai ông già đi về cùng nhau, một người chống gậy, một người đẩy chiếc xe đạp cũ.

Lộng đứng ở góc sân lăng, dưới gốc đa, cổ tay phải còn quấn băng. Lúc ông Thới đi ngang, ông dừng lại một chút trước mặt con trai. Ông không nói gì. Ông đưa tay vỗ lên vai anh, hai cái, như người ta vỗ vào mạn một con tàu vừa về bến. Rồi ông đi tiếp. Tường Lam đứng cạnh Lộng, thấy anh nhìn theo cha cho tới khi cái lưng còng khuất sau cổng lăng, và thấy anh không chùi mắt.

Sáng thứ Năm, Tường Lam mở cửa phòng lưu thì giường số ba trống.

Con Ri đứng ở hành lang, mặt căng thẳng.

– Ảnh đi rồi chị. Sáu giờ ảnh dậy, ảnh nói em chở ảnh qua Gành Đen. Em chở. Ảnh biểu em về.

Cô nhìn cái giường trống, rồi nhìn Ri. Cô không hỏi gì thêm.

Mười giờ, cô mượn xe của Ri chạy sang Gành Đen, mang theo hộp thuốc thay băng. Vết phỏng đó phải thay băng mỗi ngày.

Cô dừng xe ở đầu mỏm đá, đi bộ xuống.

Trên bậc thềm cái chòi lưới mới, có hai người ngồi. Cô Út ngồi ở đầu này, tấm lưới đan dở trên đùi, cây kim tre trong tay mà không đan. Thằng Vững ngồi ở đầu kia, cánh tay băng gác lên đầu gối. Hai người ngồi cách nhau một khoảng bằng cái thùng xốp đựng đá. Không ai nói gì. Cả hai nhìn ra biển.

Tường Lam đứng lại sau giàn phơi cá, không lại gần.

Một lúc lâu sau, thằng Vững nói. Cô nghe được, vì gió đang thổi về phía cô.

– Con hổng biết kêu cô bằng gì.

Cô Út không quay sang.

– Kêu cô Út. – Cô Út nói. – Như hồi nào giờ.

Thằng Vững gật đầu. Rồi nó lại im. Rồi nó nói tiếp, nhỏ hơn.

– Cái chén cá kho có nắp. Con ăn hết rồi. Ngon.

Cô Út cúi đầu xuống tấm lưới. Vai cô Út run lên. Thằng Vững nhích lại gần một chút. Không nhiều. Chỉ một chút. Rồi nó ngồi yên.

Tường Lam đặt hộp thuốc thay băng lên yên xe, quay về Bãi Nồm. Vết phỏng để chiều thay cũng được.

Tối thứ Sáu, ông Nhựt chủ tịch xã tới trạm. Đi cùng ông có ông Tư Rớt, bà Tư Hoa, chú Cang, và mấy người trong ban quý tế Lăng Ông.

– Bà con có ý này. – Ông Nhựt nói. Ông liếc ông Tư Rớt. – À, ông Tư có ý này, rồi bà con ai cũng gật.

Ông nói tiếp, giọng của người không quen nói chuyện cảm động, cố nói cho thật hành chính:

– Trạm y tế xã mình, từ hồi xây lại, chưa có treo tấm ảnh nào ngoài bằng khen. Bà con muốn treo một tấm ảnh cô mụ Huyên ở trạm. Ở ngay phòng sinh, hay ngoài hiên, bác sĩ chọn. Không biết bác sĩ có giữ tấm ảnh nào của cô không.

Tường Lam đứng lặng một lúc. Rồi cô vào phòng công vụ, lấy cái ví vải mà cô không bao giờ rời người, rút ra tấm ảnh màu đã bạc.

Một người phụ nữ trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước căn nhà vách ván mái tôn. Bên cạnh là một cô gái đội nón lá che gần hết mặt, chỉ thấy cái cằm nhọn và một bàn tay cầm búi cước xanh. Mặt sau: "Hòn Trầu, tháng Năm 1995."

Ông Tư Rớt cầm tấm ảnh lên, đưa sát mắt.

– Con Huyên. – Ông nói. – Còn con nhỏ đội nón…

– Con Gấm. – Bà Tư Hoa nói khẽ. – Cái cằm đó, con Gấm.

Không ai nói gì. Ông Nhựt nhìn tấm ảnh, nhìn mọi người, rồi nói: "Hay là mình in tấm khác. Cắt ra. Chỉ lấy cô Huyên."

– Hổng cắt.

Cô Út Gấm đứng ở cửa trạm. Không ai biết cô Út tới từ lúc nào. Cô Út chống gậy bước vào, nhìn tấm ảnh trong tay ông Tư.

– Treo nguyên tấm. – Cô Út nói. – Có tui đứng bên chỉ. Hồi đó tui đứng bên chỉ. Bây giờ cũng vậy.

Sáng thứ Bảy, mười chín tháng Chín, tàu khách chạy lại chuyến đầu tiên sau bão. Ông Võ Đình Thuần bước xuống cầu cảng Bãi Nồm, mặt xanh như tàu lá chuối, ôm cái túi vải.

Ông không hỏi gì con gái. Ông đi thẳng về trạm.

Trên tường hiên trạm, ngay bên cạnh khung cửa chính, dưới cái đui đèn đỏ, có một khung ảnh gỗ mới. Tấm ảnh vẫn nhỏ bằng bàn tay, màu đã bạc, nét đã nhòe, lồng trong cái khung chú Cang ngồi đóng suốt đêm qua, tấm kính tháo từ khung bằng khen cũ trong phòng khám. Cô mụ Huyên mặc áo blouse trắng, đứng trước trạm xá vách ván. Cô gái đội nón lá đứng bên cạnh, tay cầm búi cước xanh. Bên dưới, ai đó đã viết bằng sơn trắng lên một tấm gỗ nhỏ, nét chữ vụng về: "Cô mụ Lê Thị Huyên. Trạm xá Hòn Trầu, 1993–1996."

Ông Thuần đứng nhìn tấm ảnh rất lâu. Ông gỡ kính ra, lau, đeo lại. Rồi ông nói, nói nhỏ, nói với tấm ảnh chứ không phải với ai khác:

– Em không về trễ vì đàn ông. – Ông nói. – Em về trễ vì một đứa nhỏ.

— Hết chương 34 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →