Chương 31: Bão cuối mùa luân phiên
– Bác sĩ! Thuận Buồm gọi! Thằng Vững bị thương dưới hầm máy, máu ra nhiều lắm!
Anh lính trẻ của Đồn Biên phòng đứng dưới cái đèn đỏ, áo mưa nhỏ nước tong tỏng, đèn pin trong tay. Mười một giờ hai mươi đêm thứ Sáu, mười một tháng Chín. Tường Lam vớ cái túi cấp cứu theo phản xạ, rồi đứng sững lại giữa hiên. Túi cấp cứu để làm gì. Thằng Vững đang ở ngoài biển, cách đảo gần một trăm bốn chục hải lý.
– Thượng úy Quang nói bác sĩ lên Đồn, nói chuyện qua máy. – Anh lính nói. – Tổ đoàn kết nối máy qua Đồn rồi. Lẹ bác sĩ.
Cô chạy.
Bốn ngày rồi, từ cái tối có tin bão, cả đảo sống theo từng bản tin. Áp thấp mạnh lên thành bão, rồi bão mạnh thêm, rồi đường đi của nó cong dần về phía Nam Trung Bộ. Tàu thuyền ở ngư trường được lệnh chạy về. Tàu Thuận Buồm kéo câu lên, chạy về. Biển đã động, tàu chạy được năm hải lý một giờ là hết sức. Rồi đêm thứ Ba, trên đường về, tàu Thuận Buồm bắt được tin của tàu ông Bảy Hùng: chết máy, trôi dạt, mười một người trên tàu, cách bảy chục hải lý về phía đông bắc, ngược ra ngoài khơi. Chồng chị Hà My ở trên đó.
Lộng quay mũi tàu ngược ra. Không hỏi ý ai.
Từ sáng thứ Tư, tàu Thuận Buồm kéo tàu ông Bảy Hùng phía sau bằng hai sợi dây cáp, chạy về phía đảo chưa tới hai hải lý một giờ. Có lúc gió giật phải đứng máy, quay mũi vô sóng mà chịu, chậm như một con rùa bơi giữa biển. Gió mỗi ngày một mạnh. Sóng mỗi ngày một cao. Tường Lam nghe những con số đó mỗi tối qua lời ông tổ trưởng, mỗi tối lại thấy tim mình nặng thêm một chút.
Trạm Biên phòng nằm trên lưng đồi phía sau xóm. Thượng úy Quang đứng chờ ở cửa phòng thông tin, mặt căng thẳng, đưa cái ống nói cho cô.
– Đường truyền chập chờn. Bác sĩ nói ngắn, nói rõ. Đầu bên kia là anh Lộng.
Cô cầm cái ống nói. Tay cô lạnh.
– Lộng. Em đây. Nói em nghe.
Tiếng nhiễu rè rè. Rồi giọng anh, xa xăm như vọng lên từ đáy giếng, nhưng đều, rõ, không run:
– Khớp nối ống nước làm mát bể. Sóng lớn, tàu nhồi, cái khớp nối bằng gang văng ra. Một miếng gang cứa vô cẳng tay trái nó, chỗ gần cổ tay. Sâu. Máu phun thành tia. Nước nóng trong ống xịt trúng cánh tay nó, từ cùi chỏ lên vai. Nó xỉu rồi. Thằng Lụi đang đè cái khăn lên vết cứa. Máu thấm ra ngoài khăn.
Cô nhắm mắt lại một giây. Rồi cô mở mắt ra, và giọng cô trở về cái giọng của người đọc bệnh án.
– Nghe em nói, từng chữ. Đặt Vững nằm ngửa trên sàn, chỗ khô, chân kê cao lên. Lụi đè tiếp, đè mạnh hết sức, bằng lòng bàn tay, lên ngay chỗ máu ra. Đừng nhấc khăn lên coi. Khăn thấm thì chồng thêm khăn lên trên, đè tiếp. Người kia giơ cánh tay Vững lên cao hơn ngực.
Tiếng nhiễu. Tiếng anh nói lại từng câu với ai đó. Tiếng gió, tiếng sóng, tiếng máy tàu gầm gừ.
– Rồi. Đè rồi.
– Cánh tay bị phỏng. Có nước ngọt sạch trên tàu không?
– Có. Thùng nước uống.
– Dội nước ngọt mát lên chỗ phỏng, dội từ từ, hai mươi phút. Không chườm đá. Không bôi gì hết. Không nước mắm, không kem đánh răng, không dầu. Xong lấy vải sạch phủ lên, không băng chặt. Rồi đắp chăn cho Vững, giữ ấm. Mất máu mà lạnh là tệ thêm.
Cô đứng trong phòng thông tin, một tay cầm ống nói, một tay đặt lên đùi, ngón tay gõ nhẹ theo nhịp. Cô không biết mình đang đếm cái gì. Thượng úy Quang đứng sau lưng cô, im lặng.
Năm phút sau, giọng anh lại vang lên.
– Máu vẫn thấm. Thằng Lụi đè hết sức mà vẫn thấm. Chồng ba lớp khăn rồi.
Cô biết câu đó nghĩa là gì.
– Ga-rô. – Cô nói. – Anh lấy một sợi dây vải to bản, khăn rằn, thắt lưng vải, cái gì bản rộng, đừng lấy dây cước, dây cước cứa đứt da. Quấn quanh cẳng tay trái, trên vết thương chừng năm, bảy phân, về phía cùi chỏ. Đừng quấn đè lên khớp. Thắt một nút, đặt một khúc cây ngắn lên nút, thắt thêm một nút đè lên khúc cây, rồi vặn khúc cây cho dây siết lại. Vặn tới khi máu ngừng chảy. Ngừng hẳn. Rồi giữ khúc cây đó lại, đừng để nó xoay ra. Ghi giờ. Ghi lên trán Vững, ghi lên tay anh, ghi chỗ nào cũng được. Giờ siết dây.
Tiếng nhiễu kéo dài. Lâu. Lâu tới mức cô tưởng mất sóng. Cô đứng im, nghe tim mình đập trong tai, nghe tiếng mưa bắt đầu quất vào cửa kính phòng thông tin.
– Mười một giờ bốn mươi mốt. – Giọng anh vang lên. – Siết rồi. Máu ngừng.
Cô thở ra. Cô thấy hai đầu gối mình run.
– Vững tỉnh chưa?
– Tỉnh. Nó mở mắt. Nó thấy máu, nó xỉu lại. – Anh ngừng. Cô nghe được, qua bao nhiêu lớp nhiễu, cái tiếng cười rất ngắn, rất mệt của anh. – Tỉnh lần nữa rồi. Nó nói đừng nói con Ri.
Thượng úy Quang quay mặt đi, vai rung lên.
Cô nói với anh mọi điều cô biết. Đếm mạch Vững ở cổ, mỗi mười lăm phút, báo cho cô. Cho Vững uống nước từng ngụm nhỏ nếu nó tỉnh và không ói. Không tháo ga-rô ra để coi. Nếu tới gần hai tiếng mà còn xa bờ, cô sẽ chỉ cách nhét vải vào vết thương và băng ép thật chặt, rồi nới ga-rô từ từ, để dây đó nằm sẵn, máu chảy lại thì siết lại.
– Anh còn bao xa?
– Gần một trăm bốn chục hải lý. – Anh nói. – Kéo tàu ông Bảy Hùng thì chưa tới hai hải lý một giờ.
Ba ngày, có khi hơn. Cô không cần làm toán.
– Anh…
– Tui biết. – Anh nói. Giọng anh không thay đổi, nhưng cô nghe ra cái gì đó bên dưới, như con sóng ngầm dưới mặt nước yên. – Tui biết em sắp nói gì. Thả tàu ông Bảy ra thì tui chạy được tám hải lý một giờ. Mà tàu ông Bảy có mười một người. Hổng máy. Bão tới. Tui thả ra là tui bỏ mười một người giữa biển để cứu một người.
Cô im.
– Ba tui hồi đó bỏ một người để giữ cái tàu. – Anh nói. – Tui hổng bỏ ai hết. Em kiếm cách giùm tui.
Thượng úy Quang đã cầm cái điện thoại khác lên. Anh nói nhanh, giọng Nghệ đặc, hai bàn tay khua trong không khí. Mười phút sau, anh quay lại.
– Có tàu cứu hộ của vùng đang ở cách tàu anh Lộng chừng bảy chục hải lý về phía nam. Sáng mai, chừng bảy giờ, họ tới nhận dây kéo tàu ông Bảy Hùng. Lúc đó tàu anh Lộng chạy thẳng về.
Tường Lam cầm ống nói lên.
– Anh nghe chưa?
– Nghe rồi. – Giọng anh. Rồi một khoảng im. – Cảm ơn Quang. Cảm ơn em.
Cô ngồi ở phòng thông tin của Đồn suốt đêm đó. Mười lăm phút một lần, giọng anh vang lên qua tiếng nhiễu, đọc con số mạch của Vững. Một trăm hai. Một trăm mười tám. Một trăm hai mươi. Một giờ ba mươi, cô hướng dẫn anh nhét vải sạch vào vết cứa, ép chặt, băng ép bằng cả cuộn băng trong tủ thuốc tàu, rồi nới ga-rô từng chút một. Máu không chảy lại. Cô để dây ga-rô nằm đó, lỏng, sẵn sàng.
Hai giờ sáng, cô bước ra cửa Đồn để thở.
Mưa đã nặng hạt. Gió quật hàng phi lao trên lưng đồi ngả rạp. Dưới chân đồi, mấy chấm đèn của xóm Bãi Nồm chao đảo trong mưa.
Ở cổng Đồn, dưới cái mái che nhỏ của chòi gác, có một người đứng.
Cô Út Gấm. Áo mưa rách một bên, nón lá ướt sũng, không gậy. Cô Út đứng đó từ lúc nào, cô không biết. Anh lính gác nói khẽ với cô: "Bà đứng từ mười hai giờ. Tui mời vô bà hổng vô."
Cô đi tới. Cô Út nhìn cô. Không hỏi. Đôi mắt hỏi.
– Cầm máu được rồi cô Út. – Cô nói. – Vững tỉnh. Mạch được. Sáng mai tàu cứu hộ tới nhận kéo tàu ông Bảy, tàu anh Lộng chạy thẳng về.
Cô Út nhắm mắt lại. Môi cô Út mấp máy, không ra tiếng. Rồi cô Út quay lưng, đi xuống con dốc trong mưa, đi chậm, một tay vịn vào hàng rào.
Sáng thứ Bảy, mười hai tháng Chín.
Từ mười hai giờ trưa nay, cấm tất cả tàu thuyền. Chuyến tàu khách chín giờ rưỡi là chuyến cuối cùng rời đảo, có thể là chuyến cuối cùng trong cả tuần.
Hôm thứ Năm, phòng tổ chức của viện đã gọi cho cô. Hết hạn luân phiên vào thứ Ba tuần sau. Bão vô, đảo sẽ bị cô lập không biết bao nhiêu ngày. Hồ sơ nhập học phải nộp tận tay trước cuối tháng. Em vô chuyến chót đi, chị trưởng phòng nói. Người thay em chưa có, mà chuyện đó để viện lo.
Cái va li của cô đã xếp xong từ thứ Năm. Nó đứng ở góc phòng công vụ, cạnh cái khăn len xám của ba gấp vuông vức.
Chín giờ mười lăm, cô đứng trên cầu cảng Bãi Nồm.
Trời xám xịt. Gió đã thành gió bão, thổi từng cơn ù ù, mưa rào từng đợt rồi tạnh, rồi lại rào. Tàu khách nằm ở đầu cầu, nhồi lên nhồi xuống, mấy anh thủy thủ đang chằng thêm dây. Hành khách chen nhau lên tàu, ôm giỏ, ôm con, mặt ai cũng lo.
Ri đứng cạnh cô, mắt đỏ hoe. Út Nhớ đứng đó, con bé Bình trong địu. Chú Cang đứng đó, cái ca trà cầm trên tay mà quên uống. Ông Năm Thới đứng đó, chống gậy, mặt xám. Ở góc quán, sau cái tủ kính, cô Út Gấm đứng đó.
Không ai nói gì về cái va li. Cái va li nằm ở góc phòng công vụ. Cô không xách nó ra.
Cô đứng nhìn tàu khách. Từ chiều qua, cô đã biết mình sẽ không lên chuyến này. Có lẽ từ trước nữa. Có lẽ từ cái đêm ngồi trong phòng thông tin của Đồn nghe mạch Vững qua tiếng nhiễu. Hoặc từ cái đêm ở hốc đá. Hoặc từ cái đêm đầu tiên giơ chai dịch truyền lên trời trên con tàu này.
Chín giờ hai mươi tám, tàu khách kéo còi. Một tiếng dài. Rồi tiếng thứ hai.
Chín giờ ba mươi, nó lùi ra khỏi cầu cảng, quay mũi về phía tây, nhỏ dần trên mặt biển xám.
Tường Lam đứng đó cho tới khi không còn thấy nó nữa. Rồi cô quay lại. Út Nhớ khóc. Ri nắm tay cô. Ông Thới nhìn cô một lúc, gật đầu một cái rất khẽ, rồi chống gậy quay về.
Cô đi về trạm. Cô mở cái va li, lấy từng thứ ra, xếp lại vào cái tủ gỗ.
Bốn giờ chiều, anh lính Đồn lại chạy xuống trạm.
– Bác sĩ! Thuận Buồm gọi về! Còn sáu chục hải lý! Đài báo khuya nay sóng ngoài mũi đông lên năm mét, tàu hổng vô vũng Bãi Nồm được! Anh Lộng xin chạy vòng qua phía tây bắc, vô vũng Hang Rái tránh gió!
— Hết chương 31 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe