AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Lệnh cấm biển

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 13/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Lệnh cấm biển

– Bà con chú ý! Bà con chú ý! Kể từ mười hai giờ trưa nay, cấm tất cả tàu thuyền ra khơi. Tàu thuyền đang neo đậu tại vũng Bãi Nồm khẩn trương di chuyển vào nơi tránh trú an toàn trong đất liền theo hướng dẫn của Đồn Biên phòng…

Cái loa phát thanh treo trên cột điện trước Ủy ban xã rè rè, đọc đi đọc lại cùng một thông báo từ sáu giờ sáng thứ Tư. Giọng cô phát thanh viên của xã run run, đọc sai một chữ rồi sửa lại, nhưng không ai cười.

Cả đảo đã khác. Tường Lam thấy nó từ sáng sớm, khi ra cầu cảng mua bánh mì mà không còn xe bánh mì. Đàn ông vác bao cát chằng lên mái tôn. Đàn bà gom gà vịt vào lồng, khuân lu nước vào nhà. Con nít không được đi học, đứng túm tụm ở các hiên nhà nhìn người lớn chạy tới chạy lui. Biển vẫn xanh, trời vẫn trong, gió chỉ hơi mạnh hơn mọi ngày một chút. Nhưng ở chân trời phía đông có một dải mây dài màu xám chì, mỏng như vệt khói, nằm im không nhúc nhích.

– Mây vòi. – Ông Tư Rớt nói khi cô ghé nhà đo huyết áp cho ông. Ông ngồi trên bộ ván, tay đan lưới, mắt nhìn qua khung cửa sổ ra phía dải mây. – Thấy mây đó là bão còn cách bốn trăm cây số. Tối mai nó vô.

Ở vũng Bãi Nồm, mấy chục chiếc tàu cá lần lượt nhổ neo, xếp hàng chạy về phía đất liền như một đàn vịt. Tàu Thuận Buồm 09 đi gần chót. Tường Lam đứng trên cầu cảng, thấy Vững đứng trong cabin, thấy chú Mười Ốc, thằng Lụi, thằng Tèo Bự trên boong. Thằng Cò cũng có mặt, tay phải còn băng nhưng nhất quyết đòi đi theo. Lộng đứng trên cầu cảng, ngay cạnh cô, không lên tàu.

– Anh không đi hả?

– Thằng Vững chạy được. – Anh nói. – Ba tui còn nằm viện. Nhà còn bà nội, con Nhớ, thằng Su. Cái nhà ngói cũ đó, bão lớn là tốc mái. Tui ở.

Vững thò đầu ra khỏi cabin, hét lớn:

– Anh Hai! Chị Hai bác sĩ! Bão qua em về liền!

Ri đứng ở đầu cầu cảng, vẫy tay. Vững vẫy lại, vẫy hai tay, suýt ngã khỏi cửa cabin. Con tàu lùi ra khỏi vũng, quay mũi, rồi chạy thẳng về phía tây, nhỏ dần trên mặt nước xanh đã bắt đầu gợn những vệt bọt trắng.

Trạm y tế chuẩn bị từ chiều thứ Tư.

Chú Cang lên danh sách: người già sống một mình, người bệnh nằm liệt, nhà nào mái yếu, nhà nào sát mép nước. Anh Thái kiểm kho thuốc, đếm từng hộp kháng sinh, từng chai dịch truyền, đổ đầy hai can dầu cho máy phát điện. Ri giặt và phơi hết khăn, ga, gấp sẵn thành chồng. Tường Lam kiểm tra ba bình oxy lớn, hai bình nhỏ, cái bóng bóp người lớn, cái bóng bóp sơ sinh, sạc đầy hai cái đèn pin sạc, nhét vào túi cấp cứu thêm một bộ đỡ đẻ vô khuẩn.

– Bà bầu gần ngày có ai không Ri?

Ri lật cuốn sổ quản lý thai nghén.

– Có hai. Chị Lan bên xóm Giếng, ba mươi tư tuần, con rạ, nhà sát trạm. Với chị Hà My bên Gành Đen, hai mươi hai tuổi, con so, ba mươi bảy tuần. Dự sinh hai mươi tháng Mười một.

– Chồng chị Hà My đâu?

– Đi tàu. Tàu ông Bảy Hùng. Chạy vô bờ tránh bão hồi sáng rồi.

Tường Lam nhìn ra cửa sổ, về phía con dốc Cổ Ngựa vắt qua lưng đồi.

– Chiều nay chị qua Gành Đen.

Lộng chở cô đi. Gió đã lớn hơn buổi sáng, thổi ngang qua dốc làm chiếc xe máy chao đi chao lại. Trên vách đá bên trái con dốc, mấy dòng nước nhỏ đã bắt đầu rỉ ra từ các khe đất, chảy thành những vệt đỏ quạch trên mặt đường bê tông.

Nhà chị Hà My là một căn nhà cấp bốn mái tôn nằm sâu trong xóm Gành Đen, sau một rặng dừa. Chị Hà My người nhỏ, mặt tròn, bụng to vượt mặt, đang ngồi trên võng ăn me chua chấm muối ớt. Má chị, bà Năm Thủy, ngồi lặt rau ở hiên.

Tường Lam khám cho chị. Thai ngôi đầu, tim thai tốt, chưa có cơn gò. Cô nói chuyện với hai mẹ con, nói chậm, nói rõ: con so thì chưa chắc sẽ sinh trong mấy ngày này, nhưng ba mươi bảy tuần là đủ tháng, có thể chuyển dạ bất cứ lúc nào. Bão vô, đường dốc Cổ Ngựa có thể bị sạt. Tốt nhất là sang Bãi Nồm, ở gần trạm, hoặc ở luôn tại trạm cho tới khi bão qua.

– Con so mà bác sĩ. – Bà Năm Thủy nói. – Con so đâu có đẻ sớm. Hồi tui đẻ nó, tui trễ ngày cả tuần.

– Con muốn ở với má. – Chị Hà My nói nhỏ. – Ảnh hổng có nhà. Con sợ qua bển ở một mình.

– Chị không ở một mình. Ở trạm có em, có Ri…

– Thôi để tui coi. – Bà Năm Thủy nói, cái giọng của người đã quyết rồi mà còn lịch sự. – Có gì tui chở nó qua liền. Nhà tui có xe.

Tường Lam biết là không ép được. Cô dặn lại kỹ những dấu hiệu chuyển dạ, dặn nếu vỡ ối hay ra máu thì gọi ngay, ghi số điện thoại của cô lên tờ lịch treo tường bằng bút bi, chữ thật to. Rồi cô đứng dậy ra về.

Trên đường ra xe, họ đi ngang qua chòi lưới của cô Út Gấm.

Bà Gấm đang khuân lưới. Cả đống lưới cũ chất ngoài hiên, bà ôm từng bó vào trong nhà, từng bó một, lưng còng xuống dưới sức nặng. Mấy giàn cá phơi đã được dỡ xuống, cá gom vào bao. Cái hũ thủy tinh trên bậu cửa sổ vẫn còn nguyên chỗ cũ.

Lộng dừng xe.

– Cô Út! Cô qua Bãi Nồm ở với bà nội đi. Chòi này sát mép nước, sóng lớn là…

– Chòi này đứng ba chục năm rồi. – Bà Gấm nói, không ngừng tay. – Bão nào cũng đứng.

– Năm nay bão lớn. Đài nói cấp mười hai, mười ba.

– Năm chín sáu cũng cấp mười hai. – Bà Gấm ném một bó lưới vào cửa, đứng thẳng lưng, chống tay lên hông thở. – Nó vẫn đứng.

Lộng định nói thêm, nhưng bà Gấm đã quay sang nhìn Tường Lam. Cái nhìn đó không còn là cái nhìn dưới quầng đèn đỏ đêm Trung thu nữa. Nó mệt mỏi hơn, và có gì đó như một lời thách thức.

– Bác sĩ qua đây làm gì?

– Con qua khám cho chị Hà My. Chị gần ngày sinh.

– À. – Bà Gấm gật gù. Môi bà nhếch lên, cái nhếch môi sắc như dao lam. – Dị thì cô lo cho người đẻ đi. Tui đâu có đẻ.

Bà ôm bó lưới cuối cùng vào nhà, đóng sập cửa lại.

Lộng đứng nhìn cánh cửa một lúc, rồi quay xe. Suốt đường về, anh không nói gì.

Sáng thứ Năm, gió đã thành gió bão.

Không phải từng cơn nữa, mà là một luồng không ngừng, ù ù như tiếng máy bay đậu mãi trên đầu. Hàng phi lao trước trạm ngả rạp về một phía. Mưa bắt đầu từ trưa, mưa ngang, mưa xối vào cửa kính như ai đó cầm vòi xịt. Biển đổi màu, từ xanh sang xám đục, sóng bạc đầu cuồn cuộn đập lên kè bê tông, tung bọt trắng xóa cao hơn mái nhà.

Từ chiều, người già bắt đầu được đưa tới trạm. Mười hai người, rồi mười bảy người. Sáu cái giường không đủ, Ri trải chiếu khắp phòng lưu, phòng khám, cả hành lang. Ông Tư Rớt tới, ngồi dựa tường, tay vẫn cầm cây kim đan lưới. Bà Chín, cái bà ngất trong đám tang cá Ông, cũng tới, do con gái chở. Bà Tư Hoa không nhìn Tường Lam, nhưng để mẹ mình nằm ngay cái chiếu cạnh phòng khám, chỗ dễ gọi nhất.

Gần năm giờ chiều, Lộng cõng bà nội tới. Bà Bảy ướt từ đầu tới chân dù đã trùm hai lớp áo mưa. Bà thở khò khè, hai cổ chân phù to.

– Mái nhà tróc một góc rồi. – Lộng nói, đặt bà xuống giường số một. – Tui sợ khuya nó bay luôn.

Tường Lam kê cao gối cho bà, cho bà thở oxy, nghe phổi, đếm nhịp thở. Bà Bảy nằm im, để cô làm. Lúc cô gỡ ống nghe ra, bà nắm lấy cổ tay cô, đúng chỗ cái vòng cước. Bàn tay bà lạnh và run.

– Ba nó mà biết, nó giết tui. – Bà nói, và cái miệng móm mém nhếch lên thành một nụ cười. – Mà nó đang nằm nhà thương. Nó đâu có biết.

Bảy giờ tối, cả đảo cúp điện.

Trạm tối om trong một giây, rồi máy phát điện sau nhà nổ phành phạch, mấy bóng đèn lại sáng lên, vàng vọt hơn. Cái đèn đỏ ngoài hiên cũng sáng lại. Tường Lam ra hiên nhìn. Ngoài kia tối như mực, gió hú, mưa quất, chỉ có quầng sáng đỏ nhỏ nhoi của cái bóng đèn run rẩy trên dây điện, chiếu xuống mấy bậc tam cấp ướt nhẹp.

Chú Cang đứng sau lưng cô.

– Năm chín sáu cũng vầy. – Ông nói. – Cũng gió vầy. Cũng mưa vầy.

Cô không trả lời.

Mười giờ mười lăm, điện thoại cô rung.

Sóng điện thoại chập chờn, một vạch, rồi mất, rồi một vạch. Đầu dây bên kia là giọng một người đàn bà, gào lên trong tiếng gió:

– Bác sĩ hả? Bác sĩ ơi! Con Hà My… nó bể nước ối rồi! Nó đau dữ lắm! Đau liên tục, cách năm phút một lần! Bác sĩ ơi…

– Bác Năm, bác nghe con nói. Chị Hà My có ra máu không?

– Hổng có… hổng thấy máu… nước trong… Bác sĩ ơi, sao đây…

– Bác cho chị nằm nghiêng bên trái. Đừng cho rặn. Con tới.

– Mà đường… – Tiếng bà Năm Thủy đứt quãng. – Đường bị… dân quân nói… dốc Cổ Ngựa sạt… hồi chiều…

Cuộc gọi mất.

Tường Lam đứng sững giữa hành lang. Mười bảy cái đầu đang nằm trên chiếu quay về phía cô.

– Chú. – Cô quay sang chú Cang. – Dốc Cổ Ngựa sạt thật hả chú?

– Sạt từ bốn giờ chiều. – Chú Cang nói. – Dân quân báo về, đá lăn chắn nguyên một đoạn chừng ba chục mét. Xe máy hổng qua được.

– Gọi Đồn?

– Ca nô đâu có chạy vòng đảo trong bão này được con. – Ông lắc đầu. – Đi vòng mũi phía bắc, sóng năm sáu mét, ca nô lật liền.

– Vậy còn đường nào?

Chú Cang im lặng. Ông nhìn cô, rồi nhìn ra cửa, ra cái quầng đèn đỏ đang run rẩy ngoài hiên. Cô biết ông đang nghĩ gì. Cô cũng đang nghĩ đúng điều đó. Năm chín sáu, cũng có một con đường mòn, một cơn bão, một người đàn bà đau đẻ ở bên kia dốc.

– Đi bộ. – Cô nói. – Qua đoạn sạt thì đi bộ.

– Con điên hả? Đá còn đang lăn…

– Chú. – Cô nói. – Con so, vỡ ối, gò năm phút một lần, có khi hai, ba tiếng nữa là sinh. Có khi sớm hơn. Chị Hà My hai mươi hai tuổi. Ở bên đó không có ai biết đỡ đẻ.

Cô quay vào phòng lấy cái túi cấp cứu, kiểm lại bộ đỡ đẻ, cái bóng bóp sơ sinh, ống thuốc co hồi tử cung, mấy chai dịch truyền. Cô quấn tất cả trong hai lớp túi ni lông. Cô mặc áo mưa. Cô cột tóc lại thật chặt. Ri đứng ở cửa, mặt trắng bệch.

– Chị… em đi với chị.

– Em ở lại. Chị Lan xóm Giếng ba mươi tư tuần, lỡ có chuyện thì sao. Mười bảy người già ở đây.

Lúc cô ra tới hiên, Lộng đã đứng sẵn dưới quầng đèn đỏ.

Anh mặc áo mưa của lính tàu, màu cam, mũ trùm kín đầu. Trên vai anh là một cuộn dây thừng. Trong tay anh là cái đèn pin lớn của tàu, loại đèn pha cầm tay, chùm sáng rọi xa cả trăm mét. Chiếc xe máy tróc sơn dựng sau lưng anh, đã nổ máy, khói xả phụt ra trắng xóa trong mưa.

Anh không hỏi cô đi đâu. Anh đã nghe hết.

– Đi. – Anh nói. – Tui chở.

— Hết chương 13 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →