AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Giữ lời hay nói thật

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 30/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 30: Giữ lời hay nói thật

– Thằng Vững đâu? Tay nó có sao hông? Nó có bị gì hông?

Cô Út Gấm đứng ở đầu cầu cảng, cây gậy tre trong tay, cái nón lá sụp xuống tới mắt. Lộng vừa nhảy xuống ván cầu, tay còn cầm sợi dây buộc tàu, chưa kịp quấn vào cọc.

Mười một tháng Sáu, chín giờ sáng. Tàu Thuận Buồm cắt ngang chuyến biển, chạy suốt hai đêm một ngày về đảo, vì thằng Vững ngồi trong hầm máy mà tay run tới mức vặn không nổi con ốc. Lộng không hỏi ý ai. Anh quay mũi tàu về hướng tây lúc mười giờ đêm hôm có tin, lính tàu không ai nói một câu.

Ba mươi hai năm, Lộng chưa từng thấy cô Út ra cầu cảng đón tàu. Tàu ông nội, tàu ba, tàu anh, cô Út chưa đón chiếc nào. Cô Út nói đứng đợi tàu là việc của mấy bà có chồng.

– Nó ở dưới hầm. – Anh nói. – Nó hổng sao. Má nó…

– Tao biết má nó sao. Bà Sáu về rồi, bó bột rồi, ngồi nhà rồi. – Cô Út nói nhanh, mắt không nhìn anh, mắt nhìn qua vai anh, nhìn vào cái cửa hầm máy. – Tao hỏi thằng Vững.

Thằng Vững trèo lên từ hầm máy, mặt lem luốc, thấy cô Út, ngơ ngác. Cô Út nhìn nó từ đầu tới chân. Nhìn hai bàn tay nó. Nhìn cái mặt nó. Rồi cô Út quay lưng đi, không nói thêm câu nào.

Lộng đứng cầm sợi dây buộc tàu, nhìn theo cái lưng gầy của cô Út, cho tới khi thằng Lụi la lên "Anh Hai, buộc dây đi anh Hai, tàu trôi kìa".

Từ bữa đó, chuyến nào tàu về, cô Út cũng có mặt ở cầu cảng.

Cuối tháng Sáu. Giữa tháng Bảy. Đầu tháng Tám. Cô Út không đứng ở đầu cầu nữa, mà đứng ở góc quán Út Nhớ, chỗ khuất sau cái tủ kính, như thể chỉ tình cờ đi ngang. Có lần cô Út xách theo một cà mèn cá kho, nói gởi cho lính tàu. Lộng mở ra. Cá thu kho tiêu, khúc nào cũng dày, mà khúc giữa, khúc bụng, khúc ngon nhất, cô Út đã gắp riêng ra bỏ trong một cái chén có nắp. Cô Út dặn: "Cái chén đó của thằng Vững. Nó ốm nhách."

Thằng Vững nặng tám mươi lăm ký.

Lộng ăn cá kho mà không biết mùi vị.

Cô thì anh gặp lại ở nhà bà Sáu, hôm tàu mới về. Bà Sáu ngồi trên bộ ván, cánh tay bó bột treo trên ngực, cười móm mém với thằng Vững. Cô đang đo huyết áp cho bà. Hai người nhìn nhau qua cái bộ ván. Mười tám ngày từ cái chiều trên mỏm đá ở vũng Hang Rái.

– Anh về rồi. – Cô nói.

– Ừ.

Chỉ vậy. Cô cúi xuống đọc con số trên cái đồng hồ đo huyết áp. Anh đứng nhìn tay cô quấn băng đo, cái vòng cước xanh lấp ló dưới ống tay áo. Anh muốn nói "Cảm ơn em ở lại với má thằng Vững". Anh muốn nói "Tui nói sai một câu". Anh không nói được câu nào trước mặt bà Sáu, thằng Vững, ông Sáu. Anh về.

Tháng Bảy, anh ngủ lại dưới tàu nhiều đêm. Không phải vì ba. Ba anh đã thôi chặn cửa từ lâu, giờ chiều chiều còn chống gậy ra quán ngồi uống trà với chú Cang, hai ông già ngồi đối diện nhau không nói câu nào mà ngồi tới tối. Anh ngủ dưới tàu vì dưới tàu anh nghĩ được.

Và anh nghĩ.

Anh nghĩ như người ta gỡ một tấm lưới rối. Gỡ từng mắt, từng mắt.

Cái nút trên cổ tay cô. Nút mắt lưới đôi. Anh đã nói ngay đêm đầu tiên: chỉ đàn bà Gành Đen mới thắt. Mà trong đám đàn bà Gành Đen, ai thắt vòng cho anh đeo hồi nhỏ? Ai có cái hũ thủy tinh biển trên bậu cửa sổ?

Gấm ơi, cột chân nó cho chặt. Anh đã nghe cô kể câu đó hồi tháng Mười năm ngoái, giữa hàng dương. Anh đã hỏi Gấm nào. Anh đã kể ra ba bà Gấm. Anh đã gạch tên cô Út trong đầu ngay lúc đó, vì cô Út là cô Út.

Bà Ba Lựu nói đêm đó bên Gành Đen không ai đẻ. Không ai đẻ mà người ta biết.

Cô Út đêm bão năm chín sáu ở đâu? Anh chưa từng hỏi. Anh lục trong trí nhớ, và anh nhớ ra một câu bà nội nói hồi anh còn nhỏ, lúc kể chuyện đêm đó lần thứ một trăm: "Đêm đó con Gấm kẹt bên Gành Đen, sáng ra hổng về được." Một câu nói bâng quơ, chen giữa những câu khác, anh chưa từng để ý.

Thằng Vững sinh ngày hai mươi ba tháng Mười năm chín sáu. Anh biết ngày đó vì năm nào cũng nhậu sinh nhật nó. Ngày đó cách ngày má anh mất có hai ngày. Nó được nhận ở Quy Nhơn. Hai chục triệu bọc ni lông. "Mầy đừng có đi." Cái chén cá kho có nắp.

Và cái đêm bà Sáu té. Cô ở lại nhà bà Sáu. Năm ngày sau, cô sang Gành Đen, ở cả buổi sáng trong chòi cô Út. Con Hà My nói thấy hai người ngồi trên bậc thềm, cô Út quỳ, hai người ôm nhau khóc. Con Hà My kể cho con Nhớ, con Nhớ kể cho anh, cười cười, nói "Cô Út với chị Hai làm hòa rồi đó anh Hai".

Lộng nằm trên nóc cabin, nhìn lên trời. Đêm mười hai tháng Bảy, trăng gần cuối tháng mọc muộn, trời đầy sao.

Tấm lưới gỡ xong. Anh nhìn nó. Anh không muốn nhìn nó.

Mười giờ đêm, anh lên trạm.

Cái đèn đỏ sáng ngoài hiên. Cô ngồi trên bậc tam cấp, như cô vẫn hay ngồi, hai tay ôm đầu gối, nhìn ra vũng. Thấy anh, cô không đứng dậy.

Anh không ngồi xuống. Anh đứng dưới chân tam cấp, ngước lên.

– Thằng Vững là con cô Út. – Anh nói. – Phải hông.

Câu đó không có dấu hỏi. Anh nói nó ra như ba anh đã nói ra câu "Mầy nghe bà nội mầy nói rồi, phải hông" trên mạn tàu.

Cô nhìn anh rất lâu. Gió nồm thổi qua hàng bàng, cái bóng đèn đỏ đung đưa nhẹ trên dây, quầng sáng trượt qua trượt lại trên mặt hai người.

– Anh đừng hỏi em. – Cô nói. – Em hứa rồi.

– Hứa với ai?

– Với bà nội anh. Với cô Út. Với má em, nếu anh muốn tính luôn.

Cô không chối. Anh biết cô không chối. Cô chỉ không nói. Và cái không nói đó là câu trả lời rõ hơn mọi câu trả lời.

– Em biết từ hồi nào?

– Em không nói.

– Em biết từ hồi nào! – Anh nói lớn. Có tiếng chó sủa ở nhà bên. – Từ hồi bà Sáu té? Từ hồi ở Gành Đen tháng Năm? Từ hồi bà nội mất? Từ hồi em chui vô hốc đá với cô Út? Em biết, em ngồi đó coi tui đi kiếm. Em đi với tui qua nhà bà Ba. Em nghe bà Ba nói. Em ngồi uống nước chè mà em biết.

– Hồi đó em không biết. – Cô nói. – Em nghi. Em không biết.

– Mà em hổng nói em nghi.

– Không.

– Tui là cháu cô Út. – Anh nói, giọng vỡ ra. – Thằng Vững là… thằng Vững là em tui. Em họ tui. Nó ngồi dưới hầm máy tàu tui mười một năm. Tui kêu nó là thằng mập, nó kêu tui anh Hai. Ba mươi năm. Mà tui là người cuối cùng biết.

– Anh không phải người cuối cùng. – Cô nói, rất khẽ. – Vững chưa biết.

Câu đó làm anh đứng im.

– Cô Út quỳ xuống xin em đừng nói với Vững. – Cô nói. – Em hứa rồi. Má em giữ chuyện đó cho cô Út ba mươi năm, giữ tới bị cả đảo chửi, giữ tới chết. Em không nói thay cô Út. Không nói với Vững. Không nói với ba anh. Không nói với anh.

– Mà tui tự biết.

– Anh tự biết. – Cô gật đầu. – Em không chối. Em chỉ không nói.

Lộng đứng dưới chân tam cấp. Anh muốn giận. Anh giận. Cái giận cuộn lên trong ngực anh như con sóng lớn, cái giận của người bị giấu, bị bỏ ngoài. Anh đã đi lòng vòng cả năm trời, trong khi người mình thương đã đứng ở cuối con đường mà không chỉ cho mình.

Rồi con sóng đó đổ xuống, và anh thấy bên dưới nó là cái gì.

Một người đàn bà hai mươi bốn tuổi ôm một đứa nhỏ mới mấy ngày tuổi vào Quy Nhơn, trong khi cả đảo chửi mình. Không cãi. Ba mươi năm không cãi. Không nói với chồng. Không nói với con. Nói đúng một câu lúc gần chết, nói với trần nhà.

Và con gái bà ta đang ngồi trên bậc tam cấp này, dưới cái đèn đỏ, làm y hệt.

– Ba tui. – Anh nói. Giọng anh đã khác. – Ba tui hỏi hoài "con Huyên đi đâu đêm đó". Ba tui cần biết.

– Em biết.

– Mà em vẫn hổng nói.

– Đó là chuyện cô Út nói. – Cô nói. – Không phải em. Không phải anh.

Anh im rất lâu. Rồi anh bước lên ba bậc tam cấp, ngồi xuống cạnh cô. Không sát. Cách một khoảng bằng cái thùng xốp đựng đá.

– Tui hổng nói với ba. – Anh nói. – Tui hổng nói với thằng Vững.

Cô quay sang nhìn anh.

– Hồi ở vũng Hang Rái, – anh nói tiếp, nhìn thẳng ra vũng, – tui nói em giấu tui nhiều chuyện quá, tui hổng biết cái gì em nói thật. Tui nói sai. Em hổng giấu tui. Em giữ cho người khác. Hai cái đó khác nhau. Tui giờ mới biết.

– Anh…

– Còn câu cuối. – Anh nói. – "Em về đi." Câu đó tui nói sai nhứt.

Cô không nói gì. Anh thấy vai cô run nhẹ.

– Em đi học đi. – Anh nói. – Hai năm. Em học mổ. Học xong em muốn ở đâu thì ở. Tui chờ. Tui làm nghề chờ mà. Dân biển ai cũng biết chờ.

Cô bật cười, cái cười lẫn với nước mắt. Cô ngả đầu lên vai anh. Anh để yên. Ngoài vũng, con tàu Thuận Buồm đong đưa trên mặt nước đen, đèn cột ăng ten chớp chớp.

Trong túi quần anh vẫn còn cái hộp nhung đỏ. Anh chưa lấy ra. Chưa phải lúc. Anh biết vậy, như biết khi nào nên thả câu, khi nào nên chờ.

Sáng thứ Ba, ngày một tháng Chín, tàu Thuận Buồm ra khơi chuyến cuối mùa nồm. Cô đứng ở hiên trạm nhìn theo. Cô Út đứng ở góc quán Út Nhớ, sau cái tủ kính. Hai người đàn bà không nhìn nhau, nhưng cùng nhìn một con tàu.

Bảy giờ tối thứ Hai, ngày bảy tháng Chín, tàu đang thả câu cách đảo hai trăm tám chục hải lý về phía đông. Lộng báo vị trí về tổ đoàn kết như mọi tối. Lần này, đầu bên kia không đọc lại tọa độ như thường lệ. Giọng ông tổ trưởng gấp gáp, át cả tiếng nhiễu:

– Thuận Buồm 09… nghe rõ… Áp thấp ngoài biển đã mạnh lên thành bão… hướng tây tây bắc… dự báo năm ngày tới đổ bộ Nam Trung Bộ… Tất cả tàu ở ngư trường… lập tức chạy vô bờ… Nhắc lại… lập tức chạy vô bờ…

— Hết chương 30 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →