AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Câu trả lời trên mạn tàu

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 19/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 19: Câu trả lời trên mạn tàu

– Mầy nghe bà nội mầy nói rồi, phải hông.

Ông Năm Thới không quay lại. Câu đó không có dấu hỏi. Ông nói nó ra mặt nước đen trước mặt, như người ta thả một sợi dây câu xuống mà không cần biết dưới đó có cá hay không.

Lộng không trả lời. Anh bước lên mạn tàu, ngồi xuống cách cha một khoảng bằng cái thùng xốp đựng đá. Trăng mười một đã ngả về phía tây, tròn gần đủ, rọi xuống vũng một vệt sáng trắng chạy dài từ chân cầu cảng ra tới mấy chiếc tàu neo xa nhất.

– Con Nhớ kể ba nghe hả ba?

– Con Nhớ hổng nói với tao câu nào. – Ông Thới nói. – Nó đứng sau quầy, nhìn tao đi qua, hổng chào. Ba chục năm nay chưa bữa nào con Nhớ hổng chào tao. Tao về nhà, má tao ngồi trên ghế mây, mặc cái áo tím. Tao hỏi bả nay ngày gì. Bả nói: "Nay ngày tao nói thật."

Ông cười một tiếng khan, nghe như tiếng ho.

– Con hỏi ba một lần nữa. – Lộng nói. – Đêm đó ba ở đâu?

Ông Thới im rất lâu. Lâu tới mức Lộng nghĩ cha sẽ chụp cây gậy bỏ đi, như chiều hôm qua ở cầu cảng, như hồi anh mười tuổi. Nhưng ông không đứng dậy. Ông đưa bàn tay phải xoa cái đầu gối của cái chân bị tời dập, chậm, đều.

– Vũng Hang Rái. – Ông nói.

Rồi ông kể. Ông kể không theo thứ tự. Ông kể cái tàu trước: tàu gỗ cũ mua lại của một ông chủ ở Sa Huỳnh, máy chạy kêu như trâu thở. Ông gom hết của nả, vay thêm ba cây vàng của bà Tám Lụa bên xóm Giếng, mỗi tháng đóng lãi một chỉ. Ông kể chiều hai mươi tháng Mười, ông đứng trên kè đất nhìn sóng đánh vào vũng, nhìn mấy chiếc ghe nhỏ đã bị đập vô ghềnh từ trưa. Và ông thấy cái tàu của mình gãy làm đôi trong đầu mình rõ như thấy bằng mắt.

– Má mầy níu tay tao ở cửa. – Ông nói. – Má mầy nói em thấy trong người khác lắm. Tao nghe rõ. Tao nói còn mười mấy ngày. Tao gỡ tay má mầy ra.

Ông đưa bàn tay trái ra trước mặt, nhìn nó dưới trăng.

– Cái tay này gỡ.

Tiếng sóng vỗ vào mạn tàu dưới chân hai người, đều, nhỏ, như có ai đang gõ cửa rất khẽ.

Gần tới mũi phía bắc thì sóng đã cao hơn cabin. Tới vũng thì trời tối hẳn. Ông thả hai cái neo, buộc thêm dây vào một gốc cây trên vách, định đi bộ băng đồi về. Mới leo được trăm thước thì một cây dương lớn đổ ngang trước mặt, đá lăn rào rào sau lưng. Ông quay xuống, ngồi dưới hầm cả đêm, hai tay ôm sợi dây neo chính, nghe nó rít lên từng cơn.

– Tao giữ được cái tàu. – Ông nói. – Sáng ra dây neo hổng đứt. Tàu hổng trầy miếng sơn. Tao đi bộ về, té ba lần. Tới cửa nhà, má tao đứng đó. Bả hổng nói gì. Bả đứng tránh qua một bên cho tao vô.

Giọng ông vỡ ra ở chữ cuối, nhưng ông không dừng.

– Năm sau tao bán nó. Bán lỗ. Tao hổng chịu nổi mỗi lần bước xuống nó.

Lộng nhìn cha. Một tháng nay, từ cái đêm nằm viện, ông uống ít hẳn đi, và cái màu đỏ trên mặt ông đã rút, để lại một làn da xám như tấm buồm cũ phơi lâu ngoài nắng. Ông đang khóc. Không thành tiếng. Nước mắt đọng ở mấy nếp nhăn quanh miệng rồi rơi xuống cái áo sơ mi rộng thùng thình.

Ba mươi mốt năm, Lộng chưa từng thấy cha khóc. Người ta kể hồi bị tời dập bàn chân, nằm trên sàn tàu nhìn xương mình lòi ra, ông chửi thề chứ không khóc.

– Rồi tới trưa, người ta nói con Huyên ở với thằng thầy giáo. – Ông chùi mặt bằng mu bàn tay. – Tao nghe. Tao biết tao muốn nghe. Mầy hiểu hông? Có một người khác hổng có ở đó. Có một người khác về trễ. Tao chụp lấy cái đó. Tao bóp nó trong tay ba mươi năm, bóp tới mức quên mất cái tay mình bóp cái gì.

– Rồi chú Cang…

– Thằng Cang nói. Tao đánh nó. – Ông gật đầu chầm chậm. – Rồi ba bữa sau, thằng Cang lôi tao từ dưới biển lên. Tao hổng định chết. Tao định đi ra coi cái đêm đó nó nằm ở đâu. Đi hoài, nước tới cổ mà chưa thấy. Thằng Cang nắm tóc tao kéo lên, tát tao hai cái, rồi ngồi trên cát khóc như con nít. Ba chục năm nó hổng nói với ai. Tao đánh gãy răng nó, mà nó hổng nói với ai.

Ông nhìn xuống mặt nước.

– Cái thằng đó.

Hai cha con ngồi im. Lộng thấy trong ngực mình có một cái gì đó, không phải giận, không phải thương, mà là một khoảng trống, như cái hầm cá vừa dỡ hết cá ra, còn lạnh, còn tanh, mà trống. Anh đã nghĩ ra cả chục câu trả lời cho câu "Còn ba ở đâu". Ba ở nhà, ôm má. Ba chạy đi kiếm ghe. Chưa lần nào anh nghĩ ra câu trả lời là: ba đi giữ tàu.

– Vì sao ba hổng nói? – Anh hỏi. – Hồi con mười tuổi.

– Mười tuổi mầy biết thương má mầy. – Ông Thới nói. – Tao nói ra, mầy còn biết thương ai?

Câu đó rơi xuống giữa hai cha con, nằm đó.

– Con hổng biết con có tha cho ba được hông. – Lộng nói, chậm. – Con nói thiệt.

– Tao đâu có xin.

– Mà má hỏi bà nội bảy lần ba về chưa. – Lộng nói tiếp. – Lần cuối, má dặn ba đừng giận ai hết.

Ông Thới gật đầu. Ông gật nhiều lần, như người mắc kẹt trong cái gật đầu đó, không dừng lại được.

Rồi ông ngẩng lên. Giọng ông khác đi, khàn và gắt, giọng của người vừa thả hết một gánh xuống rồi thấy trong gánh còn một cục đá.

– Mà con Huyên. Nó về trễ thiệt. Thằng Cang nói, má tao nói. Nó đi từ tám giờ, một giờ khuya mới về, máu me đầy người. Hổng phải ở với thằng thầy giáo thì nó ở đâu? – Ông nắm chặt cây gậy. – Tao hổng còn quyền giận nó. Mà cái đêm đó vẫn còn một cái lỗ. Tao muốn biết cái lỗ đó là cái gì.

– Con cũng muốn biết. – Lộng nói.

Ông Thới chống gậy đứng dậy, chao một cái. Lộng đưa tay đỡ. Ông để yên cho con đỡ.

– Mai mầy về nhà ngủ. – Ông nói, không nhìn anh. – Bà nội mầy khóc hoài từ bữa mầy xuống tàu ngủ.

Ông đi về phía xóm, cây gậy gõ lộc cộc trên mặt bê tông. Lộng nằm ngửa trên nóc cabin, nhìn mấy ngôi sao mà hồi nhỏ ông nội dạy anh dùng để biết giờ ngoài khơi. Gần ba giờ sáng anh mới ngủ được, và trong giấc ngủ ngắn đó anh thấy một người đàn bà đứng ở cửa nhà, níu một cái tay áo.

Bảy giờ sáng thứ Hai, Tường Lam đang gỡ một cái lưỡi câu ra khỏi ngón tay một thằng thanh niên bên xóm Giếng thì điện thoại rung.

Lưỡi câu móc vào sâu quá ngạnh ở bụng ngón trỏ. Thằng nhỏ tên Tí, đi câu mực đêm về, ngồi cắn răng nhìn trần nhà. Cô gây tê, ấn cán lưỡi câu xuống, dùng một sợi chỉ kéo ngược ra theo đúng cái góc mà hồi ở viện một anh bác sĩ người Phú Yên đã chỉ. Cái lưỡi câu bật ra gọn gàng.

– Rồi hả chị? – Thằng Tí nhìn cái khay. – Anh Hai Lộng hồi mười lăm tuổi bị móc câu vô lông mày, ông nội ảnh cắt bằng cái kềm cắt chì. Còn thẹo tới giờ.

Cô cười, đưa nó tờ đơn thuốc, rồi ra hiên gọi lại cho ba.

– Ba về tới nhà rồi. – Giọng ông Thuần khàn khàn, giọng của người ngồi xe đêm suốt tám tiếng. – Kiệt mình mưa. Ba mở cửa ra, nhà lạnh ngắt. – Ông ngừng lại. – Thằng đó sao rồi con?

Cô nhìn ra cầu cảng. Con tàu Thuận Buồm nằm ở cuối cầu, cabin không có ai. Sáng nay đi chợ, Ri kể đã thấy anh Hai xách túi đồ từ tàu về nhà lúc sáu giờ.

– Con không biết. Hồi khuya ba anh ấy ngồi trên tàu. Con thấy anh ấy đi ra. Con không lại gần.

– Phải. Đừng lại gần.

Đầu dây im một lúc. Cô nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn nhà mình ở Huế, rơi lên cái mái hiên có bóng đèn đỏ của mẹ.

– Lam. – Ông Thuần gọi. Chỉ ba mới gọi cô như vậy. – Đêm qua trên xe ba nghĩ cả đêm. Má con biết nhà người ta không có chồng ở nhà. Má con biết mà không nói. Người ta chửi má con giữa xóm, má con không nói. Người ta đánh cái cậu Cang đó, má con không nói. Ba không biết má con giấu cho ai. Ba cũng không muốn biết. Ba chỉ biết má con là người không chọn bậy bao giờ.

Ông nói tiếp, rất chậm, như ngày xưa đọc đề toán cho học trò chép:

– Má con chọn im. Con có chắc muốn nói thay má không?

Cô đứng dưới cái đèn đỏ đã tắt, điện thoại áp vào tai, rất lâu. Cô nghĩ tới cái người con gái gõ cửa trạm xá lúc tám giờ tối dưới mưa. Cô nghĩ tới đôi mắt sáng như hai đốm lửa trong lò, nói "Cô nghe gì thì quên đi."

– Con không biết, ba.

– Rứa thì đừng vội. – Ông Thuần nói. – Ba đi nấu cháo đây.

Cả ngày hôm đó cô làm việc như mọi ngày. Ông Sáu Hên lên tái khám, đi một mạch từ nhà tới trạm không cần nghỉ, phổi phải nghe rõ ràng như phổi trái. Bà Sáu đứng sau lưng ông, cầm gói xôi, mặt hớn hở.

– Ông Sáu hết đi biển rồi bác sĩ. Thằng Vững nó cấm. Nó nói ông ra biển lần nữa là nó bỏ tàu theo ông ra coi chừng.

– Bà nói quá. – Ông Sáu càu nhàu. – Tui ngồi nhà vì tui muốn.

Lúc đặt gói xôi xuống bàn, bà Sáu ngập ngừng, như muốn nói gì. Rồi bà chỉ vỗ vỗ lên tay cô, nói "Ăn đi con", như mọi lần.

Tám giờ tối, có tiếng chân ngoài sân.

Lộng không đứng ngoài hàng rào như lần trước. Anh đi thẳng vào, bước lên ba bậc tam cấp, dừng lại dưới quầng sáng đỏ. Áo sạch, tóc còn ướt, mắt trũng sâu như người hai đêm không ngủ, mà đúng là hai đêm không ngủ. Anh chìa ra một bịch bánh tráng nướng còn ấm.

– Ăn với tui một chút.

Họ ngồi trên băng ghế dài ngoài hiên. Tiếng bánh tráng giòn vỡ trong im lặng. Rồi anh kể lại những gì cha anh đã nói, bằng cái giọng đều đều như người đọc nhật ký hải trình. Cô nghe hết, không ngắt lời lần nào.

– Ổng khóc. – Lộng nói, ở cuối. – Còn tui hổng khóc được. Tui ghét ổng ba mươi năm vì chuyện rượu, chuyện ổng đánh tui. Chuyện này thì tui hổng biết ghét kiểu gì. Ổng giữ cái tàu. Mà cái tàu là cái nhà ăn. Mà má tui…

Cô đặt tay lên mu bàn tay anh. Anh lật tay lại, nắm lấy.

– Ổng còn hỏi một câu. – Anh nói. – Ổng muốn biết đêm đó má em ở đâu. Ổng nói cái đêm đó còn một cái lỗ.

Tường Lam nhìn xuống hai bàn tay đang nắm nhau trên mặt ghế gỗ. Dưới tay áo trái của cô, ba hạt thủy tinh xanh nằm im. Cô biết một nửa. Có thể ít hơn một nửa. Cô không biết cái nửa còn lại nặng tới cỡ nào, và nó sẽ rơi trúng ai.

– Em cũng muốn biết. – Cô nói. Đó là sự thật. Chỉ không phải là tất cả sự thật.

Lộng nhìn ra khoảnh đất mọc đầy cây dương bên kia đường.

– Ba chục năm cả cái đảo này chỉ hỏi một câu: con Huyên ở với ai. – Anh nói. – Hổng ai hỏi con Huyên đi đâu. Hổng ai đi kiếm. Chú Cang hổng dám. Bà nội hổng dám. Ba tui hổng muốn.

Anh quay sang cô. Dưới quầng đèn đỏ, vết sẹo nhỏ trên lông mày trái của anh như một đường chỉ khâu.

– Tui muốn đi tìm chỗ má em ở đêm đó. – Anh nói. – Đi với em.

— Hết chương 19 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →