AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Bà Bảy không chịu chết ở đất liền

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 22/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 22: Bà Bảy không chịu chết ở đất liền

– Đỡ bà ngồi dậy. Thả hai chân bà xuống mép giường. Đừng để bà nằm.

Tường Lam nói câu đó trước khi kịp đặt cái túi cấp cứu xuống. Trong buồng, bà Bảy Giỏi đang nửa nằm nửa ngồi giữa đống gối, hai tay bấu vào mép chiếu, ngực phập phồng, mỗi hơi thở kéo theo một tiếng rít ướt át như có nước sôi lục bục trong cổ. Môi bà tím. Trán bà ướt đẫm mồ hôi lạnh. Ông Thới đứng ở đầu giường, mặt trắng bệch, tay cầm cái ống thở oxy mà không biết làm gì với nó.

Lộng và Tâm đỡ bà ngồi thẳng lên, thả hai bàn chân phù to xuống nền gạch. Tường Lam vặn máy oxy lên mức cao nhất, áp ống nghe vào lưng bà. Hai bên phổi, từ đáy lên quá nửa, chỗ nào cũng nghe tiếng lép bép như ai đang bóp một nắm muối hột.

– Phù phổi. – Cô nói với Lộng, nói nhỏ. – Tim bà yếu quá, không bơm nổi, nước dồn lên phổi.

Cô lấy ven ở mu bàn tay bà, cái ven mỏng như sợi chỉ, chích thuốc lợi tiểu vào thẳng tĩnh mạch. Cô đo huyết áp, đếm mạch, kẹp cái máy đo oxy vào ngón tay bà. Tám mươi tư. Cô đặt bàn tay phải lên đùi, gõ nhẹ đầu ngón tay theo từng nhịp thở của bà. Ba mươi hai lần một phút.

Hai mươi phút sau, bà Bảy đi tiểu được. Bốn mươi phút sau, tiếng rít trong ngực bà bớt đi. Con số trên máy lên tám mươi chín, rồi chín mươi mốt. Bà mở mắt, nhìn quanh, nhìn thấy cô.

– Con nhỏ… bác sĩ. – Bà thều thào.

– Dạ, con đây bà.

Ông Thới kéo Tường Lam ra gian ngoài.

– Chở vô bờ. – Ông nói, giọng gấp. – Tao gọi ca nô Đồn. Hồi tao, cô chở tao vô kịp…

– Bác. – Cô nói. – Con nói thật với bác. Tim bà đã yếu từ lâu, mấy tháng nay yếu thêm. Vô bờ thì người ta làm được nhiều hơn con một chút, giữ được thêm ít ngày, có khi ít tuần. Nhưng không chữa cho tim bà khỏe lại được. Và đêm nay, đi ca nô trong gió bấc, bà có thể không chịu nổi trên đường.

Ông Thới nhìn cô. Ông mở miệng, rồi ngậm lại.

– Tao hổng đi.

Tiếng bà Bảy vọng ra từ trong buồng. Khàn, đứt quãng, mà rõ. Hai người quay vào. Bà đã ngồi thẳng được, một tay vịn vai thằng Tâm, mắt nhìn con trai.

– Mầy đưa tao vô bờ, – bà nói, – tao chết trên ca nô cho mầy coi. Tao tám mươi lăm tuổi. Tao đẻ mầy trong cái buồng này. Tao làm dâu, làm má, làm bà nội trong cái nhà này. Tao chết ở đây.

– Má…

– Thằng Tư Rớt nó nói với tao, – bà Bảy nói tiếp, thở hổn hển sau mỗi câu, – vợ nó chết ở Quy Nhơn một mình. Nó ngồi cầu cảng ba ngày. Tao hổng cho mầy ngồi cầu cảng.

Ông Thới đứng im. Rồi ông quay mặt vào vách.

Đêm đó Tường Lam không về trạm. Cô gọi chú Cang lên trực thay, rồi ngồi lại bên giường bà Bảy trên một cái ghế đẩu. Cô giải thích cho cả nhà những gì cô sẽ làm và những gì cô sẽ không làm. Cô sẽ giữ cho bà ngồi dựa, cho bà thở oxy, cho thuốc lợi tiểu khi bà ngộp, lau miệng cho bà, trở mình cho bà, giữ cho bà bớt khó chịu. Cô sẽ không đặt ống vào cổ bà, không ép tim nếu tim bà ngừng. Không làm gì để kéo dài, cũng không làm gì để rút ngắn.

– Bà đã chọn. – Cô nói. – Mình giữ cho bà đi được nhẹ nhàng, ở đúng chỗ bà muốn.

Út Nhớ khóc. Thằng Su ngủ gục trên đùi Tâm. Ông Thới ngồi ngoài hiên suốt đêm, trên cái ghế bố cũ, không uống rượu, không hút thuốc, chỉ ngồi. Cô Út Gấm ngồi ở góc buồng, trên một cái chiếu, lưng dựa vách, cây gậy tre nằm ngang trên đùi. Cô Út không nhìn Tường Lam một lần nào. Nhưng mỗi lần cô đứng dậy chỉnh oxy hay trở mình cho bà, cô biết đôi mắt đó đang theo từng cử động của tay mình.

Gần sáng mùng Bốn, bà Bảy tỉnh hẳn. Bà thở êm hơn. Bà đòi uống nước, uống được nửa chén. Rồi bà nói:

– Đi ra hết đi. Tui nói chuyện với con nhỏ này.

Không ai nhúc nhích.

– Đi ra! – Bà nói, và cái giọng đó, cái giọng đã quát ông Thới đêm giỗ, vẫn còn đủ sức làm cả buồng giật mình. – Thới, mầy ra. Gấm, mầy ra. Lộng, ra.

Họ ra. Cô Út đi chậm nhất. Tới cửa buồng, cô Út dừng lại, quay đầu nhìn mẹ. Bà Bảy không nhìn con gái. Bà nhìn lên trần nhà. Cô Út đi ra.

Bà Bảy vẫy tay cho Tường Lam ngồi sát lại. Bà nắm lấy cổ tay trái của cô, như bữa đầu tiên ở trạm, như đêm bão. Ngón tay cái nhăn nheo của bà lần trên cái nút thắt nơi hai đầu sợi cước gặp nhau. Lần qua, lần lại.

– Cái vòng này. – Bà nói. Giọng bà nhỏ, khò khè, phải ghé sát mới nghe. – Con Gấm nhà tui thắt.

Tường Lam ngồi im.

– Tui mắt mờ. – Bà nói tiếp. – Mà tay tui còn. Tui rờ là biết. Con Gấm thắt cái nút này khác mấy đứa Gành Đen. Nó thắt ngược một vòng ở trong, để kéo hổng tuột. Hồi nhỏ nó thắt vòng cho thằng Lộng, tui ngồi coi hoài. Cả cái đảo này, chỉ nó thắt kiểu này.

– Bà biết từ hồi nào bà?

– Từ bữa đo huyết áp. Tui rờ là biết. – Bà Bảy thở mấy hơi. – Tui hổng biết sao cái vòng con Gấm thắt nằm trên tay má con. Tui hổng biết. Mà tui nói con nghe một chuyện. Chuyện này tui chưa nói ai.

Bà ngừng lại. Ngoài sân, con gà trống gáy. Cô thấy bà nghe tiếng gà, và thấy bà nhắm mắt lại một chút, rồi mở ra.

– Đêm bão năm đó, con Gấm hổng có ở nhà. Nó ở bên chòi lưới Gành Đen, nói ở lại coi lưới cho ba nó. Đám con Mến, con Gấm hổng về. Ba bữa. Người bên đó nhắn qua nói nó sốt, nằm bẹp. Tới bữa thứ ba nó mới về, đi hổng nổi, có người chở. Mặt nó trắng như tờ giấy. Nó đứng trước quan tài con Mến, nó hổng khóc. Nó run. Run cả buổi chiều.

Tường Lam nghe tim mình đập trong tai.

– Tui đang lo chôn con dâu. – Bà Bảy nói. – Tui hổng hỏi nó. Rồi tui quên. Ba chục năm tui quên. Bữa con nhỏ Ri kể cái tên trên cuốn sách, con Gấm chạy về nói với thằng Thới, tui nằm trong buồng nghe. Tui thấy giọng nó y như cái bữa nó đứng trước quan tài. Run vậy đó.

Bà quay đầu nhìn cô. Đôi mắt mờ đục ướt đẫm.

– Tui hổng biết con Gấm với má con có chuyện gì. – Bà nói. – Tui già rồi. Tui hổng đủ sức biết nữa. Mà nếu con biết, con giữ cho nó. Con Gấm nó hổng có ai hết. Hổng chồng, hổng con. Tui đi rồi, nó hổng còn ai.

Tường Lam nắm lấy bàn tay bà, nắm bằng cả hai tay.

– Dạ. – Cô nói. Cô không biết mình vừa hứa điều gì. Cô chỉ biết là mình vừa hứa.

Bà Bảy gật đầu, mệt mỏi. Rồi bà nói, giọng thường hơn:

– Kêu thằng Thới vô đây. Biểu nó đem cái hộp sắt.

Ông Thới bưng cái hộp bánh quy cũ vào, cái hộp có hình lâu đài tróc sơn, ôm trước ngực như ôm một cái lư hương. Đây không phải ngày giỗ. Ông mở khóa, mở nắp, lấy tấm ảnh trắng đen nhỏ bằng bàn tay ra, đưa cho mẹ. Bà Bảy cầm tấm ảnh, đưa lên sát mắt, nhìn lâu lắm. Rồi bà đặt nó lên ngực mình, hai bàn tay đè lên.

– Để đó cho tao. – Bà nói.

Gần trưa mùng Bốn, trời nắng đẹp. Nắng tháng Giêng vàng nhạt chiếu qua khung cửa sổ, rọi lên cái chiếu bông, lên tấm ảnh trên ngực bà. Cả nhà ngồi quanh giường. Thằng Su được cho vào, đứng nép vào chân mẹ. Cô Út Gấm ngồi sát đầu giường, nắm bàn tay trái của mẹ. Ông Thới nắm bàn tay phải. Lộng đứng sau lưng cha.

Bà Bảy thở chậm dần. Lâu lâu bà mở mắt, nhìn quanh một vòng, như đếm lại cho đủ người. Có một lần, bà nhìn cô Út rất lâu, môi mấp máy, mà không ra tiếng. Cô Út cúi sát xuống. Không ai nghe bà nói gì. Chỉ thấy cô Út gật đầu, gật đầu, rồi gục mặt xuống mép giường.

Mười một giờ bốn mươi, bà Bảy Giỏi thở hơi cuối cùng. Không vật vã, không ngộp. Nhẹ như người ta thở ra sau khi đặt một gánh nặng xuống.

Tường Lam đặt hai ngón tay lên cổ bà, đợi một phút, rồi nhìn đồng hồ, rồi nhìn ông Thới, và gật đầu.

Ông Thới cúi xuống, áp trán mình vào bàn tay mẹ. Ông khóc thành tiếng. Lần thứ hai trong đời Lộng thấy cha khóc, Tường Lam nghĩ.

Đám tang bà Bảy kéo dài ba ngày. Cả đảo tới. Ông Tư Rớt tới, ngồi trên cái ghế đẩu ở góc sân suốt buổi chiều, không nói câu nào. Ông bà Sáu Hên tới, bà Sáu nấu ba nồi xôi. Chú Cang tới, đứng ở cổng rất lâu với ông Thới. Ông Nhựt tới, Thượng úy Quang tới, đội lính Đồn đứng xếp hàng thắp nhang. Người ta thấy cô bác sĩ ở đó suốt ba ngày, bưng nước, sắp ghế, đỡ Út Nhớ bụng bầu ngồi xuống đứng lên, và không ai nói gì, hoặc nếu có nói thì nói nhỏ.

Chiều Chủ nhật, mùng Sáu, đưa bà ra nghĩa địa trên sườn đồi Mũi Trầu, cạnh mộ ông nội Lộng và mộ cô Mến.

Lúc đám người tản về, Tường Lam đi sau cùng. Con đường đất từ nghĩa địa xuống xóm hẹp, hai bên là cỏ tranh cao ngang hông, gió bấc thổi lá tranh rạp xuống một chiều. Cô đi chậm, vì đôi chân đã đứng ba ngày.

Tới khúc quanh có cây keo, có một người đứng chặn giữa đường.

Cô Út Gấm. Cái khăn tang trắng còn trên đầu, cây gậy tre chống xuống đất, bộ đồ bà ba đen lấm bụi đỏ. Cô Út đứng đó như đã đứng đợi từ lâu. Phía dưới, đám người đưa tang đã xuống tới chân dốc, tiếng nói chuyện vọng lên nhỏ xíu.

Cô Út nhìn cô. Đôi mắt sưng húp, đỏ, nhưng khô.

– Má tui đi rồi. – Cô Út nói. – Má tui nói gì với cô, tui hổng cần biết.

Cô Út chìa bàn tay trái ra. Bàn tay đen sạm, chai sần, mấy đầu ngón tay còn những vết kim đan lưới cũ, ngón cái còn vệt sẹo nhỏ từ cái chén vỡ đêm tháng Mười.

– Trả cái vòng lại cho tui.

— Hết chương 22 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →