Chương 12: Nhồi máu đêm giỗ
Năm nào cũng vậy, sáng ngày mười tháng Chín âm lịch, ông Năm Thới mở cái hộp sắt.
Cái hộp đựng bánh quy cũ, nắp in hình một cái lâu đài đã tróc gần hết sơn, cất trong ngăn kéo khóa của cái tủ thờ. Ba trăm sáu mươi tư ngày trong năm, không ai được đụng vào cái ngăn kéo đó. Ngày thứ ba trăm sáu mươi lăm, ông Thới mở khóa, lấy cái hộp ra, mở nắp, lấy ra một tấm ảnh trắng đen nhỏ bằng bàn tay, góc dưới mòn vẹt. Ông đặt nó lên bàn thờ, dựng vào bát nhang.
Lộng đứng sau lưng cha, nhìn tấm ảnh. Má anh đứng trên mũi chiếc ghe cũ của ông nội, áo bà ba trắng, nón lá cầm trên tay, tóc dài buông xuống vai, cười. Cái góc mòn vẹt là do anh. Hồi tám tuổi, anh lén lấy tấm ảnh ra coi mỗi tối, coi tới mòn. Tới khi ba phát hiện, ba đánh anh một trận, cất vào hộp, khóa lại. Từ đó, mỗi năm anh chỉ được thấy mặt má đúng một ngày.
Năm nay là năm thứ hai mươi chín.
Cô Út nấu từ sáng sớm. Gà luộc, canh chua cá bóp, chả cá chiên, xôi gấc, chè đậu đỏ. Năm nào cũng mấy món đó, vì đó là mấy món má anh thích. Bà nội ngồi trên cái ghế mây đặt sát bàn thờ, miệng lẩm nhẩm khấn, lâu lâu lại đưa tay sờ lên mép bàn thờ như sờ vào vai người. Út Nhớ bưng mâm, vạt áo rộng che cái bụng đã tròn lên. Thằng Su được dặn kỹ không được chạy nhảy, ngồi im trên bậc thềm, chốc chốc lại nhìn vào tấm ảnh trên bàn thờ với vẻ tò mò. Nó chưa bao giờ hỏi bà ngoại nó là ai. Lộng không biết là vì nó chưa đủ lớn để hỏi, hay vì nó đã đủ lớn để biết là không nên hỏi.
Ba anh bắt đầu uống lúc mười một giờ trưa.
Tới bữa cơm cúng, mâm đầy người, hàng xóm, bà con, mấy người bạn ghe cũ của ba. Rượu đế rót ra từ cái can nhựa năm lít. Câu chuyện xoay quanh mùa cá, giá dầu, cơn bão đang được loan trên đài, rồi như mọi năm, xoay về má anh. Ai cũng có một kỷ niệm. Má anh hát hay. Má anh vá lưới giỏi. Má anh làm chả cá ngon nhất xóm.
Rồi ba anh đặt mạnh ly rượu xuống mâm.
– Năm nay, – ông nói, giọng đã líu, – năm nay con của con mụ đó ra đảo. Ra đúng cái năm này. Đúng ngay giỗ má tụi bây.
Cả mâm im lặng. Út Nhớ cúi gằm mặt xuống chén. Chồng nó, thằng Tâm, đặt tay lên lưng nó.
– Ba. – Lộng nói. – Bữa nay giỗ má.
– Tao biết bữa nay giỗ má mầy! – Ông Thới gầm lên. – Tao biết hơn mầy! Mầy là cái thằng dắt con nhỏ đó lên tàu nhà tao!
– Thôi anh Năm. – Cô Út nói. Cô đứng ở cửa bếp, tay cầm cái vá. – Có người ngoài. Anh uống thì uống, nói chi chuyện đó.
Lộng quay sang nhìn cô Út. Cô Út là người đã đứng sau lưng ba ở cầu cảng sáng hôm đó. Cô Út là người đã thì thầm với ba trong bếp. Vậy mà giờ cô Út lại là người bảo ba im. Cô Út không nhìn anh. Cô quay vào bếp.
Ông Thới uống cạn ly rượu, không nói gì thêm.
Tối, khách về hết. Bà nội vào buồng nằm. Út Nhớ dắt thằng Su về. Cô Út dọn dẹp xong, lấy cái giỏ về Gành Đen, dặn Lộng coi chừng ba. Còn lại hai cha con.
Ba anh ngồi ngoài hiên, trên cái ghế bố cũ, chân phải gác lên một cái ghế đẩu. Cái can rượu đặt dưới chân. Lộng ngồi ở bậc thềm, cách ông ba bước chân. Trời không trăng. Gió đông bắc thổi từng cơn, làm cây trứng cá sau nhà kêu xào xạc.
– Hai chín năm. – Ông Thới nói, không phải với ai. – Hai chín năm rồi.
Lộng im.
– Đêm đó gió y như vầy. – Ông nói tiếp. Giọng ông khàn và nhỏ, không còn cái sang sảng gầm gừ lúc trưa. – Mà mạnh hơn. Mạnh gấp mười. Tao về tới nhà thì trời vừa hửng. Má mầy đắp chiếu rồi.
Lộng ngẩng phắt lên.
Về tới nhà. Ba nói "về tới nhà". Từ đâu về?
Anh nhìn cha. Ông Thới đang nhìn vào bóng tối, mắt đục ngầu, như không biết mình vừa nói gì. Lộng mở miệng định hỏi. Câu hỏi đó, câu hỏi năm mười tuổi đã làm anh lãnh một cái tát, nằm sẵn trên đầu lưỡi.
Ba anh bỗng nhăn mặt.
Ông đưa tay lên ôm ngực, phía giữa, ngay dưới xương ức. Mặt ông méo lại. Ông cúi gập người về phía trước, thở hắt ra một tiếng.
– Ba?
– Tức… – Ông nói. – Tức ngực…
Lộng nhảy tới. Mồ hôi trên trán ba anh ướt đẫm, lạnh như nước giếng. Tay trái ông run bần bật, ông lấy tay phải bóp lên cánh tay trái.
– Đau lan ra tay hả ba?
– Ừ… như có… cục đá… đè…
Lộng rút điện thoại ra. Anh bấm số mà không cần nhìn. Số của Tường Lam, anh lưu từ đêm thằng Cò bị tời cuốn, chưa bao giờ gọi.
– Ba tui đau ngực. – Anh nói khi cô vừa bắt máy. – Đau giữa ngực, lan ra tay trái, mồ hôi ướt hết.
– Em tới liền. Anh để ông ngồi yên, đầu cao, đừng cho ông đi lại. Em tới.
Ông Thới nghe được. Ông giằng tay Lộng ra.
– Mầy gọi ai? Mầy gọi con đó hả? Hổng đi! Tao hổng cho nó đụng vô tao!
– Ba…
– Tao chết thì tao chết! – Ông gào lên, rồi ho sặc sụa, ôm ngực gập người xuống. – Tao hổng để con của con mụ đó đụng vô người tao!
Lộng chạy ra cổng, nổ máy xe. Anh phóng tới trạm trong ba phút. Tường Lam đã đứng sẵn dưới cái đèn đỏ, vai đeo cái túi cấp cứu, tay xách cái máy điện tim với bình oxy nhỏ. Cô nhảy lên xe không cần anh nói. Anh phóng về.
Lúc anh dắt cô vào sân, ba anh đang cố đứng dậy, chống gậy, mặt trắng bệch, mồ hôi chảy ròng ròng.
– Đi ra! – Ông gầm lên khi thấy cô. – Đi ra khỏi nhà tao!
Tường Lam dừng lại giữa sân. Cô không bước tới. Cô cũng không lùi lại.
– Bác. – Cô nói. Giọng cô bình tĩnh, rõ ràng, như đang đọc bệnh án. – Con nghĩ bác đang bị nhồi máu cơ tim. Một mạch máu nuôi tim bị tắc. Nếu không chữa kịp, một phần tim sẽ chết. Con cần đo điện tim cho bác, mất hai phút. Bác cho con hai phút.
– Tao hổng cho! Mầy cút…
– Thới!
Tiếng gọi từ trong nhà vọng ra. Bà nội đứng ở cửa buồng, một tay vịn khung cửa, một tay chống cây gậy trúc. Bà run rẩy, nhỏ bé, cái lưng còng xuống, nhưng giọng bà vang lên trong đêm như tiếng trống lăng.
– Mầy ngồi xuống! Để con nhỏ coi cho mầy!
– Má…
– Ngồi xuống! – Bà nội lặp lại. – Hai chín năm trước nhà này chết một người rồi. Mầy muốn chết thêm một người nữa hả?
Ông Thới đứng sững. Rồi ông ngồi phịch xuống cái ghế bố, cây gậy rơi khỏi tay.
Tường Lam bước tới. Cô làm nhanh, gọn, không nói thừa một chữ. Cô dán các điện cực lên ngực ông, lên cổ tay, cổ chân. Cái máy điện tim kêu tít tít, nhả ra một dải giấy dài. Cô nhìn dải giấy dưới ánh đèn pin Lộng cầm. Lộng không biết đọc mấy cái đường gấp khúc đó, nhưng anh thấy mặt cô.
– Nhồi máu cơ tim. – Cô nói nhỏ với anh. Rồi cô quay sang ông Thới. – Bác ơi, bác có dị ứng với thuốc gì không? Có bị đau bao tử, xuất huyết bao tử bao giờ chưa?
Ông Thới nhìn cô, môi mím chặt. Một lúc lâu, ông lắc đầu.
Cô lấy ra một viên thuốc.
– Bác nhai viên này, nhai nát rồi nuốt. Thuốc chống đông, giúp cục máu đông không lớn thêm.
Ông Thới cầm viên thuốc, nhìn nó, nhìn cô. Rồi ông bỏ vào miệng, nhai. Cô đeo ống thở oxy vào mũi ông, gắn cái máy đo vào ngón tay ông. Chín mươi hai. Cô vặn bình oxy lên.
– Phải vào bờ ngay. – Cô nói với Lộng. – Bệnh viện tỉnh có can thiệp mạch vành. Càng sớm càng tốt.
– Tàu tui…
– Ca nô Đồn nhanh hơn. – Cô đã cầm điện thoại. – Em gọi anh Quang.
Mười lăm phút sau, ca nô Biên phòng cập cầu cảng. Bốn người lính tàu của Lộng, nghe tin chạy tới từ lúc nào, khiêng ông Thới trên tấm phản xuống ca nô. Gió đông bắc thổi mạnh, mặt biển lổn nhổn sóng bạc đầu. Thượng úy Quang tự lái, mặc áo phao, đội mũ cối.
– Sóng hai mét. – Anh nói. – Đi được. Ngồi chắc vô.
Ca nô lao ra khỏi vũng, nhồi lên, dập xuống, mỗi con sóng đập vào mũi lại tung lên một màn nước trắng xóa. Lộng ngồi phía đầu tấm phản, hai tay giữ hai vai cha. Tường Lam ngồi bên cạnh, một tay giữ bình oxy, một tay đặt lên cổ tay ông Thới để bắt mạch.
Giữa đường, một con sóng lớn làm ca nô chao mạnh. Ông Thới rên lên. Bàn tay phải của ông quờ quạng trong không khí, như người chết đuối tìm một cái phao.
Bàn tay đó chụp lấy bàn tay của Tường Lam.
Nắm chặt. Chặt tới mức các khớp ngón tay ông trắng bệch ra. Mắt ông nhắm nghiền, mặt nhăn nhúm vì đau. Ông không biết mình đang nắm tay ai.
Tường Lam không rút tay ra. Cô để yên. Cô dùng bàn tay còn lại đặt lên mu bàn tay ông, giữ cho nó khỏi run.
Lộng nhìn hai bàn tay đó dưới ánh đèn pha của ca nô. Bàn tay chai sần của ba anh, bàn tay đã cầm lái ba chục năm, đã ném lưới, đã tát anh năm anh mười tuổi. Và bàn tay nhỏ, trắng, gầy của con gái người đàn bà mà ba anh căm ghét suốt ba chục năm. Hai bàn tay đó nắm lấy nhau giữa biển đêm, giữa gió đông bắc, như thể không có gì trên đời này quan trọng hơn việc giữ cho nhau đừng rơi.
Anh quay mặt đi. Gió quất vào mặt anh rát buốt, mặn chát. Anh tự nhủ đó là nước biển.
Ca nô cập cảng lúc mười hai giờ năm phút. Xe cấp cứu chờ sẵn. Mười hai giờ bốn mươi, ba anh được đẩy vào phòng can thiệp. Một giờ năm mươi, bác sĩ tim mạch đi ra, nói một nhánh động mạch vành bị tắc, đã đặt một cái giá đỡ, máu lưu thông lại rồi, may là tới sớm.
Lộng ngồi sụp xuống hàng ghế inox ngoài hành lang. Tường Lam ngồi xuống bên cạnh. Hai người không nói gì. Đầu cô dần dần ngả sang, tựa lên vai anh. Anh để yên. Cô ngủ.
Sáu giờ sáng, ba anh tỉnh.
Lộng đứng cạnh giường hồi sức. Ba anh nằm đó, nhỏ thó dưới tấm chăn trắng, dây nhợ chằng chịt, mặt xám ngoét. Ông mở mắt, nhìn quanh, nhìn trần nhà, nhìn con trai. Ông mấp máy môi.
Lộng cúi xuống.
– Con Nhớ… – Ông thều thào. – Đừng để nó đỡ đẻ… cho con Nhớ.
Lộng đứng thẳng dậy. Anh nhìn cha rất lâu. Ông Thới đã nhắm mắt lại.
Anh đi ra hành lang. Tường Lam đã đi rồi, để lại một mảnh giấy kẹp vào cái ghế: "Em về chuyến tàu bảy giờ, trạm không có ai. Ông ổn rồi. Anh ngủ chút đi." Nét chữ nghiêng nghiêng, đều đặn.
Ở cuối hành lang, cái ti vi treo tường đang mở bản tin buổi sáng. Một người đàn ông mặc vest đứng trước tấm bản đồ, trên đó có một vòng xoáy màu đỏ đang trườn từ Biển Đông vào.
"… cơn bão mạnh, sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão có thể đạt cấp mười hai đến cấp mười bốn, giật trên cấp mười lăm. Dự báo trong khoảng năm đến sáu ngày tới, bão sẽ hướng vào khu vực các tỉnh Nam Trung Bộ…"
Lộng đứng nhìn cái vòng xoáy màu đỏ, tay cầm mảnh giấy của cô, cho tới khi bản tin chuyển sang chuyện khác.
— Hết chương 12 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe