Chương 6: Trăng rằm ở bãi Nồm
– Cô bác sĩ ơi! Lồng đèn con cháy rồi! Cháy rồi!
Tiếng thằng Su ré lên giữa đám con nít, át cả tiếng trống lân. Tường Lam quay lại. Cái lồng đèn ông sao giấy kiếng đỏ của nó đang bốc lửa phừng phừng ở đầu cây que tre. Thằng nhỏ, thay vì buông ra, lại đưa tay trái chụp lấy cái khung tre như muốn dập lửa bằng tay không.
Cô chạy tới, giật cây que khỏi tay nó, quăng xuống cát. Mấy đứa nhỏ khác dậm chân lên dập lửa, vừa dậm vừa la.
Thằng Su đứng đó, nhìn bàn tay trái của mình, mặt ngơ ngác. Rồi nó mếu. Rồi nó khóc ré lên.
Lòng bàn tay nó đỏ rực, chỗ gốc ngón trỏ và ngón giữa đã phồng lên hai cái bọng nước to bằng hạt đậu.
– Trời ơi con ơi! – Út Nhớ chạy tới, cái bụng hơi nhô lên dưới lớp áo bầu rộng. – Ai có nước mắm hông? Lấy nước mắm thoa cho nó!
– Kem đánh răng! – Một bà khác la. – Kem đánh răng mát hơn!
– Không. – Tường Lam ôm thằng Su lên. – Không nước mắm, không kem đánh răng. Nước sạch. Ai có nước sạch?
Lộng đã đứng ngay sau lưng cô từ lúc nào. Anh không hỏi gì, chạy thẳng về quán tạp hóa của Nhớ cách đó năm chục mét, khiêng ra nguyên một bình nước lọc hai mươi lít và cái thau nhựa.
Tường Lam ngồi bệt xuống cát, kẹp thằng Su vào lòng, nắm cổ tay nó giữ dưới vòi nước Lộng đang rót từ từ.
– Su, nghe cô nói nè. Mình ngâm tay trong nước mát lâu lâu, chừng hai mươi phút, cho cái nóng nó đi ra hết. Nước mát mới làm hết rát. Nước mắm làm rát thêm, còn làm nhiễm trùng.
– Hai chục phút lâu lắm. – Thằng Su nấc.
– Lâu lắm. Mà Su gan mà. Su đếm với cô. Một, hai, ba…
Nó đếm tới năm mươi thì nín khóc. Tới một trăm thì bắt đầu hỏi con Bốn Càng có bị cháy không. Tới hai trăm thì Lộng đã đổi sang can nước thứ hai, và Út Nhớ đã ngồi xuống bên cạnh, xoa lưng con, mặt vẫn còn tái.
– Bọng nước để yên, Nhớ đừng chích, đừng bóc. – Tường Lam nói nhỏ. – Lát em lên trạm, chị băng cho nó. Mai mốt ngày nào cũng lên thay băng.
– Dạ. – Nhớ thở ra. – Hồi nãy em quýnh quá, em cũng tính thoa nước mắm. Má chồng em hồi xưa thoa cho em hoài.
– Ai cũng dị. – Lộng nói, giọng bình thản. Anh vẫn đang rót nước. – Hồi nhỏ tui phỏng nồi canh, bà nội thoa mỡ trăn. Giờ còn thẹo.
Anh chìa cẳng tay phải ra. Một vết sẹo trắng loang lổ như bản đồ một cái đảo nhỏ.
– Mỡ trăn thì sao?
– Thì giờ còn thẹo. – Anh lặp lại, và thằng Su phì cười dù mặt còn lem nước mắt.
Hai mươi phút sau, Tường Lam bế thằng Su lên trạm băng tay. Út Nhớ đi theo, đứng ở cửa phòng thủ thuật, nhìn cô quấn từng vòng gạc mỏng quanh bàn tay con mình. Thằng Su đã quên đau, đang kể cho Ri nghe con Bốn Càng biết bò ngang lẫn bò dọc.
– Nhớ, em ngồi xuống đi. – Tường Lam nói, không ngẩng lên. – Đứng nãy giờ, mặt em tái lắm.
Út Nhớ ngồi xuống cái ghế nhựa, hai tay theo thói quen đặt lên bụng. Tường Lam liếc nhìn hai bàn tay đó, nhìn cái áo rộng thùng thình giữa đêm rằm nóng nực, rồi nhìn lên mặt Nhớ. Nhớ bắt gặp cái nhìn đó, đỏ mặt, cười.
– Để bữa khác em kể chị nghe. – Nhớ nói nhỏ. – Bữa nay chưa được.
Cô gật đầu, không hỏi thêm. Lúc cô trở xuống bãi thì trăng đã lên.
Bãi Nồm quay mặt về hướng đông, và đêm rằm tháng Tám, trăng mọc lên thẳng từ mặt biển. Nó to và vàng như một cái mâm đồng ai vừa đánh bóng, lúc đầu còn đỏ cam vì hơi nước, rồi ngả dần sang vàng nhạt. Ánh trăng trải trên mặt nước thành một con đường lấp lánh chạy thẳng vào tới chân bãi cát, nơi có cả trăm đứa con nít đang cầm lồng đèn chạy tới chạy lui.
Cô Hiên, cô giáo lớp Hai, đứng trên một cái bục gỗ cầm loa, gọi tụi nhỏ xếp hàng. Lân của đội thiếu niên xóm Bãi Nồm là một con lân bằng giấy bồi sơn vàng sơn đỏ, đầu hơi méo, do thằng Tèo Bự bên tàu Lộng làm, múa thì không đẹp nhưng nhảy rất cao. Mâm cỗ bày trên mấy cái chiếu trải dài: bánh nướng, bánh dẻo, bưởi, chuối, những con chó làm bằng múi bưởi, mấy con cá làm bằng bánh in. Ai đó mở loa nhạc thiếu nhi rè rè.
Tường Lam đứng ở rìa đám đông. Cô chưa bao giờ thấy một đêm Trung thu như vậy. Ở Huế, Trung thu là lồng đèn trên đường Lê Lợi, là đèn kéo quân, là bánh in của mấy lò quen. Ở đây, Trung thu là biển, là trăng mọc từ biển, là mùi khói nến hòa với mùi muối, là tiếng sóng đập vào chân con lân.
– Bác sĩ!
Một thanh niên to con như cái tủ lạnh, mặt tròn, đầu húi cua, cười tới mang tai, đứng trước mặt cô. Tay anh ta cầm một cái lồng đèn hình con cá làm bằng vỏ lon bia cắt ra, sơn xanh, bên trong có cây nến nhỏ.
– Em là Vững, máy trưởng tàu anh Hai. Bữa chở thằng Cò, em lái đó chị. Chị ói ướt nguyên cái mạn em mới sơn.
– Xin lỗi anh.
– Kêu em bằng em được rồi chị. Em hai chín, chị hai bảy, mà chị là bác sĩ, kêu chị là phải. – Anh ta xoay xoay cái lồng đèn con cá trong tay, rồi ngó dáo dác. – Chị thấy con Ri đâu hông?
Tường Lam chỉ về phía cái bàn có treo băng rôn của trạm y tế, nơi Ri đang phát kẹo cho con nít.
Vững đi qua đó, tay cầm cái lồng đèn con cá giấu sau lưng như học trò giấu sách. Tường Lam thấy Ri ngẩng lên, thấy Vững chìa cái lồng đèn ra, thấy Ri nguýt một cái rõ dài, rồi cầm lấy cái lồng đèn, quay lưng lại. Vững đứng gãi đầu. Một lúc sau, Ri quay lại, đưa cho anh ta một cái bánh dẻo.
– Thằng Vững theo con Ri hai năm rồi. – Lộng nói. Anh lại đứng sau lưng cô, tay cầm hai múi bưởi. – Con Ri chưa chịu.
– Sao chưa chịu?
– Con Ri nói thằng Vững thấy máu là xỉu, sau này nó đẻ ai đỡ cho.
Tường Lam bật cười. Anh đưa cho cô một múi bưởi. Họ đứng ăn bưởi, nhìn trăng, không ai nói gì một lúc lâu.
Rồi tụi con nít bắt đầu rước đèn đi dọc bãi, và Lộng nói:
– Đi một đoạn hông?
Họ đi về phía đầu bãi, nơi cát nhường chỗ cho những mỏm đá thấp. Tiếng trống lân nhỏ dần sau lưng. Trăng đã lên cao, sáng tới mức cô thấy được từng con còng gió chạy ngang trên cát.
– Bàn tay thằng Su có sao hông? – Anh hỏi.
– Không sao. Phỏng độ hai, nhỏ, nông. Một tuần lành, không để sẹo nếu giữ sạch.
– Nhờ cô.
– Nhờ anh khiêng nước nhanh.
Anh không đáp. Họ đi thêm một đoạn. Sóng vỗ lên những mỏm đá, vỡ ra thành bọt trắng dưới trăng.
– Má anh… – Cô hỏi, rồi ngập ngừng.
– Tui hổng nhớ mặt má. – Anh nói, như biết trước cô sẽ hỏi. – Nhà còn đúng một tấm ảnh. Má đứng trên ghe của ông nội, mặc áo bà ba trắng, đội nón, cười. Tấm ảnh nhỏ bằng bàn tay, trắng đen. Hồi nhỏ tui lấy ra coi hoài, coi tới mòn một góc, ba thấy, ba đánh tui một trận, cất vô hộp khóa lại. Giờ mỗi năm ba chỉ lấy ra đúng một ngày, ngày giỗ.
– Anh nhớ gì về má không?
Anh dừng lại, nhìn ra biển.
– Tui nhớ một cái mùi. Mùi dầu dừa. Má xức tóc bằng dầu dừa. Hồi lớn lên, có lần tui đi chợ Quy Nhơn, đi ngang một sạp bán dầu dừa, tui đứng sững lại, đứng muốn nửa tiếng. – Anh cười, cái cười ngượng ngập. – Chuyện đó tui chưa kể ai.
– Má tôi mất năm hai ngàn hai mươi ba. – Cô nói. – Bệnh gan. Má tôi xức dầu bưởi.
Anh quay sang nhìn cô. Cô nghĩ anh sẽ hỏi gì đó, về má cô, về Huế, về cái vòng. Anh không hỏi. Anh chỉ gật đầu một cái, chậm, như hai người vừa trao cho nhau một thứ gì đó không cầm được bằng tay.
Đoạn đường quay về phải leo qua một mỏm đá. Đá trơn rêu, ánh trăng làm những hố nước đọng lấp loáng như những cái gương nhỏ. Lộng bước qua trước, rồi quay lại chìa tay ra.
Cô nắm lấy. Bàn tay anh chai sần, khô, ấm. Anh kéo cô qua mỏm đá, và khi cả hai đã đứng trên cát, anh không buông ra ngay. Cô cũng không rút tay về. Họ đứng đó, có lẽ ba giây, có lẽ năm giây, đủ lâu để cô nghe được tiếng tim mình đập trong lồng ngực nhanh hơn tiếng sóng.
Rồi anh buông. Anh đi trước, tay đút túi quần.
Ở xa, phía mấy giàn cá phơi đầu bãi, có một bóng người đứng nhìn về phía họ. Một người đàn bà gầy, tóc búi sau gáy, tay xách một cái giỏ. Bóng người đó đứng yên một lúc, rồi quay đi về phía con đường lên dốc. Tường Lam không chắc mình có nhìn đúng không. Trăng sáng, nhưng không đủ sáng để thấy mặt người ở xa trăm mét.
Mười một giờ rưỡi đêm, trạm y tế đã đóng cửa phòng khám, chỉ còn cái đèn đỏ sáng ngoài hiên. Tường Lam đang ngồi trong phòng công vụ, đọc lại cuốn sách sơ cứu bỏng để chắc là mình không quên gì, thì nghe tiếng gõ cửa trước. Ba tiếng. Chậm, đều.
Cô ra mở cửa.
Người đứng dưới quầng đèn đỏ là bà Gấm.
Bà đứng thẳng, hai tay buông xuôi, không xách giỏ, không cầm gì. Ngón tay cái vẫn còn quấn miếng băng cá nhân hôm bữa, đã bẩn và sờn mép. Ánh đèn đỏ hắt lên mặt bà, làm những nếp nhăn quanh mắt sâu hơn, làm đôi mắt sáng lên như hai đốm lửa trong lò.
– Cô Út… cô có chuyện chi không cô? Cô đau ở đâu?
– Tui hổng đau. – Gấm nói. Giọng bà không còn sang sảng như hôm ở nhà Nhớ. Giọng bà thấp và đều, như người ta nói lúc nửa đêm ngoài bãi khi sợ đánh thức cá. – Tui hỏi cô một câu thôi.
Tường Lam đứng yên trên bậc cửa.
– Cái vòng trên tay cô. – Gấm nói. – Ai cho cô?
Một con gió từ biển lùa qua hàng bàng, làm bóng đèn đỏ đung đưa nhẹ trên dây. Quầng sáng đỏ trượt qua trượt lại trên mặt hai người.
– Con mua ở chợ Đông Ba. – Tường Lam nói. – Ở Huế.
Gấm nhìn cô. Nhìn lâu tới mức cô nghe được tiếng con tắc kè kêu ở góc mái, kêu bảy tiếng, rồi im.
– Cô nói dối. – Gấm nói.
Bà không nói thêm gì nữa. Bà quay lưng, bước xuống ba bậc tam cấp, đi ra khỏi quầng đèn đỏ, đi vào bóng tối. Tường Lam đứng ở cửa, tay phải nắm chặt lấy cổ tay trái, cho tới khi tiếng bước chân trần trên đường bê tông tan hẳn vào tiếng sóng.
— Hết chương 6 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe