Chương 3: Chấm đỏ dưới da bé Mắm
Năm giờ sáng thứ Sáu, mười hai bóng đèn trên hai mạn tàu Thuận Buồm 09 bật sáng một lượt, rồi tắt, rồi con tàu lùi ra khỏi vũng. Tường Lam đứng ở hiên trạm, tay cầm ly nước, nhìn theo cái đốm trắng của cabin nhỏ dần về phía mặt trời chưa lên.
– Tàu anh Hai đi rồi. – Ri nói sau lưng cô, giọng còn ngái ngủ. – Mười lăm, mười bảy ngày mới về. Thằng Cò nằm viện thì anh Hai bắt thằng Sang bên tàu ông Tám đi thế.
– Em biết hết chuyện của mọi người hả Ri?
– Đảo có hai ngàn mốt người, chị. – Ri ngáp. – Biết hết thì khó, chứ biết phân nửa thì dễ.
Sau giờ khám sáng, Tường Lam đi bộ ra đầu cầu cảng. Ở đó có một quán tạp hóa mái tôn xanh, phía trước kê sáu cái bàn nhựa thấp. Bảng giá viết tay dán trên tủ kính: cà phê đá mười hai nghìn, cà phê sữa mười lăm, nước sâm năm nghìn. Một thằng bé chừng bảy tuổi, đầu đinh, đang ngồi xổm dưới gầm bàn chơi với một con cua đá cột dây chỉ.
– Su, ra chào cô bác sĩ. – Người đàn bà sau quầy gọi. – Chị là bác sĩ mới phải hông? Em là Nhớ, em gái anh Hai Lộng. Anh Hai em nói chị ói dữ lắm.
Tường Lam bật cười. Cô bắt đầu nghĩ trên cái đảo này, chuyện cô ói đã được kể cho đủ hai ngàn mốt người nghe.
Út Nhớ khoảng ba mươi, người tròn trịa, má lúm, tóc cột cao bằng một cái kẹp hình con bướm. Cô nói nhanh, cười nhiều, vừa pha cà phê vừa hỏi một hơi: chị ở Huế hả, Huế có lạnh hông, chị có chồng chưa, sao chị ra đảo, ở đảo buồn lắm chị chịu nổi hông. Tường Lam trả lời được câu nào hay câu đó. Thằng Su bò ra, chìa con cua đá cho cô coi, mắt sáng rỡ.
– Nó tên Bốn Càng.
– Cua có tám chân hai càng mà con.
– Thì nó tên Bốn Càng. – Thằng Su nói, như đó là chuyện của con cua, không phải chuyện của cô.
Út Nhớ đặt ly cà phê xuống, ngồi xuống đối diện, chống cằm nhìn cô.
– Bà nội em đi đo huyết áp về, nói chị giống ai đó. Em hỏi giống ai, bả hổng chịu nói. – Nhớ nghiêng đầu. – Mà em thấy chị giống… giống cô giáo dạy em hồi lớp Một. Hiền hiền.
– Bà nói chị giống người hồi xưa ở đảo.
– Dị chắc giống ai đó đi rồi. Bả già rồi, bả hay thấy người này ra người kia. – Nhớ cười. – Hôm bữa bả còn nói thằng Su giống ông cố em, mà ông cố em chết hồi bả mới hai mươi tuổi, ai biết đâu.
Tường Lam uống cà phê, đắng, ngọt, đá lạnh buốt. Cô không hỏi thêm. Cô học được từ hai ngày nay: trên đảo này, hỏi một câu là hai ngàn mốt người biết mình đã hỏi.
Chủ nhật, có người bế tới trạm một con bé sáu tuổi.
Con bé tên Mỹ, nhưng cả xóm gọi là bé Mắm, vì hồi mới đẻ nó đen thui, bà ngoại nói "đen như hũ mắm". Mẹ nó là chị Hến, bán ốc luộc ở chợ, người nhỏ thó, giọng sang sảng. Chị Hến bế con vào, vạch áo con bé ra cho cô coi, như khoe một chuyện mình làm đúng.
– Nó sốt ba bữa nay rồi bác sĩ. Tui cạo gió hai lần, đó, coi, ra gió đỏ dữ chưa. Mà nó vẫn hổng hạ.
Lưng con bé chi chít những vệt đỏ tím chạy song song như sọc dưa. Tường Lam nhìn lưng con bé, rồi cẩn thận vén tay áo nó lên. Ở mặt trong cánh tay, chỗ không ai cạo, có những chấm đỏ li ti dưới da, nhỏ như đầu kim, ấn vào không mất.
– Chị cho con uống thuốc gì rồi?
– Thuốc hạ sốt. Tui mua ở tiệm tạp hóa, viên trắng trắng.
– Chị còn vỉ thuốc không?
Chị Hến lục túi quần, đưa ra một vỉ thuốc đã bẻ gần hết. Cô đọc tên trên vỉ, thở ra nhẹ nhõm. Thuốc đúng loại.
Cô hỏi thêm: con bé có đau bụng không, có nôn không, có chảy máu chân răng hay chảy máu mũi không, tiểu được nhiều không. Rồi cô làm que thử nhanh. Mười lăm phút sau, que hiện hai vạch.
– Sốt xuất huyết. – Cô nói.
Chị Hến tái mặt.
– Trời đất. Rồi sao bác sĩ? Chích một mũi cho nó mau hết đi bác sĩ.
– Không có mũi nào chích cho hết đâu chị. – Tường Lam kéo ghế lại gần, nói chậm. – Bây giờ chị nghe em, mấy ngày tới là mấy ngày quan trọng. Chị cho con uống thuốc này đúng liều em ghi, cách nhau ít nhất bốn tiếng, không uống loại nào khác. Cho uống nước nhiều, nước cam, nước dừa, oresol pha đúng gói. Đừng cạo gió nữa, đừng cho ăn đồ màu đỏ màu đen để khỏi lẫn với nôn ra máu. Ngày mai, ngày mốt chị bế con lên trạm cho em khám. Và chị nhớ cái này: khi con hết sốt, không phải là hết bệnh. Lúc hết sốt mới là lúc phải coi kỹ nhất.
– Hết sốt mà chưa hết bệnh?
– Dạ. Nếu hết sốt mà con lừ đừ, đau bụng, nôn nhiều, tay chân lạnh, chảy máu chỗ nào, thì chị đừng đợi sáng. Nửa đêm cũng bế con tới đây. Thấy đèn đỏ ngoài hiên là có em.
Chị Hến bế con về. Chiều đó Ri đi chợ, về kể lại: ngoài chợ người ta nói bác sĩ mới hổng chích hổng truyền gì, đuổi con bé về nhà, coi bộ hổng biết nghề. Có một bà còn nói bác sĩ ở thành phố ra, có biết gì về bệnh dân biển đâu.
Tường Lam đang ngồi viết bệnh án, ngòi bút dừng lại một giây rồi viết tiếp.
– Rồi chị Hến nói sao?
– Chị Hến nói "Bác sĩ dặn tui kỹ lắm, mấy bà biết gì." – Ri bĩu môi. – Chị Hến dị chứ thương người lắm.
Thứ Hai, con bé hết sốt. Chị Hến bế nó lên trạm từ sáu giờ sáng, mặt mày hớn hở.
– Hết rồi bác sĩ ơi, hết sốt rồi. Hồi đêm nó ngủ ngon, sáng dậy đòi ăn cháo.
Tường Lam khám kỹ. Bụng mềm. Mạch đều. Đầu ngón tay ấm. Cô nhắc lại một lần nữa đúng mấy câu hôm qua, chậm hơn, rõ hơn, và bắt chị Hến lặp lại cho cô nghe.
Mười giờ đêm thứ Hai, có tiếng đập cửa.
Chị Hến đứng dưới quầng đèn đỏ, đầu tóc rối bù, bé Mắm nằm vắt trên vai mẹ như một cái giẻ ướt.
– Nó ói. Ói ba lần. Nó nói đau bụng. Tui kêu nó hổng trả lời…
Tường Lam đỡ con bé đặt lên giường. Mắt nó lờ đờ, môi khô. Bàn tay, bàn chân lạnh ngắt. Cô bấm đầu ngón tay nó, màu hồng trở lại chậm, chậm hơn lúc sáng nhiều. Mạch nhanh và nhỏ dưới ngón tay cô như một sợi chỉ căng.
– Ri, đo huyết áp. Lấy đường truyền nhi.
Cô gọi cho khoa nhi bệnh viện tỉnh, nói nhanh từng chỉ số. Đầu dây bên kia đồng ý: dấu hiệu cảnh báo, truyền dịch theo phác đồ, chuyển ngay khi có phương tiện. Cô gọi sang Đồn Biên phòng. Người nghe máy là một giọng đàn ông trẻ, giọng Nghệ nặng trịch.
– Tui là Quang, phó đồn đây. Ca nô đơn vị đang đi kéo ghe bị chết máy ngoài phía bắc, chừng bốn giờ sáng mới về tới. Về là tui cho đi liền. Bác sĩ giữ được cháu tới đó không?
Tường Lam nhìn con bé, nhìn chai dịch đang nhỏ giọt, nhìn đồng hồ treo tường. Mười giờ hai mươi lăm.
– Giữ được. – Cô nói. – Anh về thì gọi em.
Cô với Ri chia nhau thức. Cứ mười lăm phút đo mạch, huyết áp, đếm nhịp thở, bấm đầu ngón tay. Cứ một tiếng ghi lượng nước tiểu bằng cái bô có vạch chia. Chị Hến ngồi ở góc giường, ôm hai đầu gối, lâu lâu lại hỏi "Nó có sao hông bác sĩ", rồi tự trả lời "Hông sao, hông sao hết".
Gần một giờ sáng, Ri gục xuống bàn ngủ. Tường Lam ngồi trên ghế đẩu cạnh giường, mắt nhìn ngực con bé phập phồng dưới lớp áo mỏng. Không có đồng hồ bấm giây, cô làm theo một thói quen cũ. Cô đặt bàn tay phải lên đùi, gõ nhẹ đầu ngón tay theo mỗi nhịp thở của con bé: ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út, ngón út, rồi lại ngón trỏ, vừa gõ vừa nhìn kim giây. Mẹ cô hay làm như vậy. Hồi nhỏ, những đêm cô sốt, cô nằm nghe tiếng ngón tay mẹ gõ lộp độp lên đùi mà ngủ.
Ba giờ sáng, chú Cang bước vào, tay cầm hai ca trà nóng. Ông dừng lại ở cửa.
Ông nhìn bàn tay cô đang gõ trên đùi. Nhìn lâu lắm.
– Chú?
Ông như sực tỉnh, đặt ca trà xuống bàn.
– Chú ngủ hổng được. – Ông nói. – Uống đi con. Trà Bảo Lộc chú mua, hơi chát.
Ông không nhìn cô nữa. Ông đứng nhìn con bé một lúc, đọc cái bảng theo dõi cô ghi, gật gù, rồi ra ngồi ngoài hiên, dưới cái đèn đỏ, cho tới gần sáng.
Bốn giờ năm mươi, thượng úy Quang gọi. Ca nô đã về. Năm giờ hai mươi, bé Mắm được chuyển xuống ca nô cùng chai dịch, Ri đi kèm, chị Hến ôm cái giỏ đệm đựng quần áo chạy theo sau. Thượng úy Quang hóa ra là một người đàn ông gầy, cao lêu nghêu, mắt đỏ kè vì cả đêm ngoài biển, vẫn chào cô một cái chào tay rất đúng điệu.
– Bác sĩ yên tâm. – Anh nói. – Biển sáng ni êm, bốn chục phút là tới.
Chiếc ca nô xé một đường trắng trên mặt nước còn xám. Tường Lam đứng trên cầu cảng nhìn theo, cho tới khi nó chỉ còn là một chấm đen. Cô quay về trạm, rửa mặt, rồi mở cửa khám sáng như thường lệ. Có bốn người ngồi đợi sẵn ngoài hiên. Một trong số đó là cái bà ngoài chợ hôm Chủ nhật nói cô "hổng biết nghề".
Ngày thứ Tư, Ri gọi về từ bệnh viện: bé Mắm qua được, tiểu cầu thấp nhưng đang lên, ăn được cháo, đòi về đảo coi con gà con của nó.
Ri về chuyến tàu chiều, vừa bước vào trạm đã líu lo.
– Chị ơi, cả đảo khen chị rồi đó. Ngoài chợ ai cũng nói. Chị Hến kể từ đầu cầu tới cuối chợ, kể ba lần, lần sau dài hơn lần trước. – Ri đặt cái giỏ xuống, hạ giọng. – Có điều nhà anh Hai Lộng…
– Nhà anh Lộng sao?
– Thì… nhà ảnh ghét bà mụ lắm. Ông Năm Thới, ba ảnh, nghe nhắc tới bà mụ là chửi. Hồi xưa có một bà mụ…
– Ri!
Chú Cang đứng ở cửa phòng sinh, cái giẻ lau trong tay. Ông chưa bao giờ to tiếng, ít nhất là trong mười ngày Tường Lam ở đây. Giờ thì giọng ông vang lên chát chúa như tiếng một tấm tôn bị gió giật.
– Đi lau phòng sinh. Lau cho sạch. Ngay.
Ri im bặt, cầm cái giẻ đi vào. Chú Cang không nhìn Tường Lam. Ông quay lưng ra sân, đứng dưới gốc bàng, hai tay chống hông, nhìn ra phía biển cho tới khi trời tối hẳn, Ri rón rén ra bật công tắc, và cái đèn đỏ sáng lên trên đầu ông.
— Hết chương 3 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe