AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Chuyện của chú Cang

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 10/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Chuyện của chú Cang

– Bão năm đó vô từ chiều. – Chú Cang nói. – Bốn giờ chiều trời đã tối như tám giờ.

Ông đặt cái ca trà xuống băng ghế, giữa ông và Tường Lam. Ông kể chậm, có lúc ngừng rất lâu, như người lội nước trong đêm, mỗi bước phải dò chân trước.

Năm đó trạm xá còn là ba gian nhà vách ván, mái tôn, nằm ngay chỗ hàng dương bây giờ. Gian giữa khám bệnh, gian trái là phòng sinh, gian phải là phòng của cô Huyên. Cô Huyên mồ côi, dì cô ở Gành Đen đã già, nên cô ở luôn tại trạm, ngày cũng như đêm. Chú Cang ở nhà, nhưng đêm có bão thì ở lại trạm trực.

– Tám giờ, có người gõ cửa. Chú đang ở gian sau nấu nồi nước sôi, nghe cô Huyên ra mở. Có tiếng nói chuyện ngoài cửa. Giọng con gái. Nhỏ lắm, mưa to, chú nghe hổng ra là ai. Rồi cô Huyên vô, lấy cái túi đỡ đẻ, lấy cái áo mưa, nói với chú: "Cang ở đây coi trạm giùm chị, chị đi chút". Chú hỏi đi đâu. Cô nói "Có người cần". Rồi đi.

– Chú không thấy người đó?

– Hổng thấy. Chú ra tới cửa thì chỉ thấy hai cái bóng đi vô mưa. Một cái bóng cầm đèn pin. Đi về phía đường mòn lên dốc.

Tường Lam biết con đường mòn đó bây giờ là con đường bê tông qua dốc Cổ Ngựa. Đường sang Gành Đen.

– Chú tưởng có ai ở xóm trên đau bụng đẻ. – Chú Cang nói. – Hồi đó cô Huyên đi đỡ đẻ tại nhà hoài, nửa đêm có người kêu là đi. Chú hổng nghĩ gì.

Mười giờ rưỡi, bà Bảy Giỏi đập cửa trạm xá. Hồi đó bà mới năm mươi lăm, còn nhanh nhẹn, ướt từ đầu tới chân, la lên trong mưa: "Con Mến đau bụng đẻ rồi! Bà mụ đâu? Bà mụ đâu?"

– Chú nói cô Huyên đi rồi, đi từ tám giờ. Bà Bảy hỏi đi đâu, chú nói chú hổng biết. Chú vác túi chạy theo bà về nhà cô Mến. Chú coi, cổ tử cung mở bốn phân, đầu thai xuống thấp, con so thì còn lâu, mà cô Mến con rạ, đẻ lần hai, chú biết là sẽ nhanh. Chú làm y tá, chú đỡ đẻ được ca thường, mà chú sợ. Chú chưa từng đỡ một mình.

Chú Cang chạy đi kêu người. Chú gõ cửa từng nhà quanh xóm Bãi Nồm, hỏi có ai kêu bà mụ không. Không ai kêu. Chú nhờ mấy thanh niên đi tìm. Có hai đứa định lên dốc qua Gành Đen, nhưng tới chân dốc thì gió quật ngã, cây đổ chắn ngang đường, phải quay về.

– Một giờ sáng, cô Huyên về. – Chú Cang nói. – Cô đi từ phía con đường mòn xuống, một mình, hổng có đèn. Áo mưa rách một bên. Tóc tai ướt nhẹp. Ngực áo dính máu, đỏ thẫm một mảng, mưa xối hoài mà hổng trôi.

Ông ngừng lại. Tường Lam nghe tiếng ông nuốt nước bọt.

– Cô hổng nói gì hết. Cô rửa tay trong lu nước trước hiên, xối ba gáo lên đầu, rồi vô nhà. Cô coi cô Mến, nói "Gần rồi". Một giờ bốn mươi, con Nhớ ra. Con nhỏ khóc to lắm, khóc át cả tiếng gió. Bà Bảy cười. Chú cũng cười.

Rồi nhau ra. Rồi máu ra. Không ngừng.

Chú Cang kể những gì hai người đã làm. Xoa đáy tử cung. Tiêm thuốc co hồi tử cung, hai ống, tất cả những gì trạm xá có. Truyền dịch, hai chai, rồi chai thứ ba. Cô Huyên kiểm tra rau, kiểm tra đường sinh dục, không thấy rách, không thấy sót. Tử cung không chịu co. Cô Huyên quỳ trên giường, hai tay ép tử cung qua bụng, ép suốt hai tiếng đồng hồ, tới mức hai cánh tay cô run bần bật mà không chịu buông. Ngoài trời bão gầm. Không có ghe nào ra được. Không có máu để truyền. Đèn dầu chập chờn.

– Bốn giờ năm mươi, gà nhà bên gáy. – Chú Cang nói. – Cô Mến đi.

Tường Lam ngồi im. Bàn tay cô nắm chặt mép băng ghế, gỗ cứa vào lòng bàn tay mà cô không thấy đau.

– Cô Huyên ngồi ngoài sân. Ngồi dưới mưa. Chú ra kéo cô vô, cô hổng chịu. Chú hỏi: "Chị đi đâu dị chị? Chị đi đâu mà máu me dị?". Cô nhìn chú, nói: "Cang đừng hỏi chị". Rồi cô gục đầu xuống đầu gối mà khóc. Chú quen cô ba năm, đó là lần duy nhất chú thấy cô khóc.

– Rồi lời đồn…

– Sáng hôm sau mới có. – Chú Cang lắc đầu. – Chú hổng biết ai nói trước. Chú chỉ biết tới trưa thì cả đảo nói cô Huyên ở trong phòng ông thầy giáo Chinh ở điểm trường Gành Đen. Có người nói thấy tận mắt. Hỏi ai thấy thì người này nói nghe người kia nói. Cô Huyên hổng cãi. Ai hỏi cô cũng hổng cãi. Cô chỉ nói một câu: "Chị Mến chết là do em hổng giữ được". Rồi im.

Ông nhìn ra hàng dương tối om.

– Chú hổng tin cô Huyên ở với thầy giáo. – Ông nói. – Chú làm với cô ba năm, chú biết cô. Cô đi đêm là đi đỡ đẻ, đi chích thuốc, đi khâu tay cho người ta. Mà chú hổng nói gì. Chú hai mươi bảy tuổi, chú sợ. Ông Thới hồi đó dữ lắm. Người ta đang giận. Chú im. Hai tháng sau cô bỏ đảo đi. Chú cũng hổng ra bến tiễn.

Tường Lam nghĩ một lúc. Rồi cô hỏi, giọng của một bác sĩ chứ không phải của một đứa con:

– Chú. Cô Mến băng huyết sau khi sinh, phải không chú? Lúc đó má con đã ở đó rồi?

Chú Cang quay sang nhìn cô.

– Ừ.

– Vậy là má con về trễ cho cuộc chuyển dạ. Nhưng lúc cô Mến băng huyết, má con có mặt. Má con đã làm hết những gì làm được ở một trạm xá, trong bão, không có máu truyền, không có ghe. – Cô nói chậm. – Nếu má con ở đó từ mười giờ rưỡi tối, thì cô Mến vẫn sinh lúc một giờ bốn mươi, vẫn băng huyết, vẫn không chuyển viện được.

Chú Cang nhìn cô rất lâu.

– Chú biết. – Ông nói. – Năm đó chú nói với ông Thới y như con nói. Ổng đánh chú. Đánh gãy cái răng này nè. – Ông há miệng, chỉ vào một cái răng hàm bọc kim loại. – Từ đó chú hổng nói nữa.

Có một câu hỏi Tường Lam đã giữ trong đầu từ lúc chú Cang bắt đầu kể. Từ lúc chú nói "bà Bảy đập cửa", "bà Bảy cười", "bà Bảy" mà không có ai khác.

– Chú. Đêm đó, chồng cô Mến ở đâu?

Chú Cang khựng lại. Ông cầm cái ca trà lên, uống một ngụm trà nguội đã đóng váng, rồi đặt xuống. Bàn tay ông run nhẹ.

– Chuyện đó… – Ông nói. – Chuyện đó chú hổng nói được. Hổng phải chuyện của chú.

Ông đứng dậy, cầm cái ca, dắt chiếc xe đạp cũ ra cổng. Tới cổng, ông dừng lại, nói vọng vào:

– Mai con gắn cái đèn lại đi. Đập thì mình gắn. Đập nữa thì gắn nữa.

Sáng thứ Bảy, Tường Lam gắn cái bóng đèn đỏ mới vào đui. Tối thứ Bảy, nó sáng. Sáng Chủ nhật, nó vẫn còn nguyên.

Tuần sau đó, trạm vẫn vắng. Người ta đi ngang, nhìn vào, rồi đi tiếp. Tiệm thuốc tây ở góc chợ đông khách hơn thường lệ. Có mấy ca nặng thì người nhà tự thuê ghe chở vào bờ, không ghé trạm. Mỗi lần nghe tin, Tường Lam lại thấy trong ngực mình như có ai đang siết một sợi dây cước.

Có một người vẫn tới. Bà Sáu Hên.

Ông Sáu còn nằm viện, bà đi đi về về mỗi ngày bằng tàu khách. Sáng nào trước khi ra bến, bà cũng ghé trạm, để lên bàn khám một gói xôi đậu xanh bọc lá chuối, còn nóng hổi.

– Ăn đi con. – Bà nói, rồi đi.

Bà không nói gì thêm. Không hỏi chuyện mẹ cô. Không nhắc chuyện ở cầu cảng. Sáng thứ Tư, lúc bà đặt gói xôi xuống, Tường Lam nắm lấy tay bà.

– Bà, bà không sợ người ta nói hả bà?

Bà Sáu nhìn cô. Đôi mắt già hiền như mắt con trâu, có một vệt nước mỏng ở đáy.

– Ông Sáu thở được là nhờ con. – Bà nói. – Người ta nói thì người ta nói.

Rồi bà rút tay về, đi ra bến. Tường Lam nhìn theo cái lưng còng của bà, cảm giác như vừa có điều gì đó lướt qua mà cô không chụp lại kịp.

Chiều thứ Tư, cô tới nhà ông Tư Rớt. Ông về đảo từ đầu tháng Mười, hôm đó cô đã ra cảng đón như đã hứa. Giờ ông nói đã rõ hơn nhiều, khóe miệng phải chỉ còn trễ một chút, tay phải cầm được cây kim đan lưới, chậm, nhưng cầm được.

Cô đo huyết áp cho ông. Ông ngồi im, đợi cô làm xong. Rồi ông nói:

– Tui nghe rồi. Con của con Huyên.

– Dạ.

– Bữa trên ca nô, tui có nói gì với cô hông?

Lần này cô không nói dối.

– Ông nói con giống má con. Ông nói "tội nó".

Ông Tư gật gù. Ông với tay lấy cái bình trà trên bàn, rót hai cái chén nhỏ, đẩy một chén về phía cô.

– Con Huyên đỡ cho vợ tui hai đứa con. – Ông nói. – Đứa thứ hai ra ngược, nó xoay được. Nửa đêm nó đi bộ từ trạm xá qua tới đây, hổng đòi một đồng. Tui hổng tin mấy lời đó. – Ông nhấp một ngụm trà. – Mà tui già, tui nói ai nghe.

Tối thứ Năm, gần chín giờ, có tiếng gõ khẽ ở cửa sau phòng công vụ. Không phải cửa trước, nơi có đèn đỏ. Cửa sau, quay ra con hẻm nhỏ sau trạm.

Tường Lam mở cửa. Một người đứng trong bóng tối, trùm cái áo mưa có mũ dù trời không mưa.

– Chị Hai. Cho em vô lẹ.

Út Nhớ.

Cô kéo Nhớ vào, đóng cửa. Nhớ tuột mũ áo mưa xuống, mặt tái, mắt dáo dác như sợ có ai đi theo.

– Em lén lên đây. – Nhớ nói. – Ba em mà biết em lên đây ổng giết em. Anh Tâm đứng canh ngoài đầu hẻm.

– Em có sao không?

Nhớ đặt hai tay lên bụng, kéo vạt áo rộng sát vào người. Bụng đã nhô lên một chút tròn trịa.

– Em có bầu. Đứa thứ hai. Mười bốn tuần rồi. Em chưa khám lần nào. Em định chờ chị khám, rồi… rồi chuyện ở cầu cảng.

Tường Lam đưa Nhớ sang phòng khám, kéo rèm kín, chỉ bật một bóng đèn nhỏ. Cô hỏi ngày kinh cuối, hỏi lần mang thai trước, đo huyết áp, cân nặng. Rồi cô bật cái máy siêu âm đen trắng. Màn hình nhấp nháy mấy giây rồi hiện ra một vùng xám mờ, rồi một hình hài nhỏ xíu cuộn tròn, rồi một đốm sáng đang chớp nhanh liên hồi giữa ngực hình hài đó.

– Tim con nè. – Tường Lam chỉ.

Nhớ chồm dậy nhìn. Rồi Nhớ bụm miệng, nước mắt trào ra.

– Thằng Su hồi đó em đi Quy Nhơn mới siêu âm được. – Nhớ nói. – Ở đảo mình có máy mà hổng ai biết xài.

Cô lau gel cho Nhớ, kéo áo xuống, đỡ Nhớ ngồi dậy. Nhớ ngồi trên mép giường khám, hai tay vẫn ôm bụng, nhìn cô.

– Chị Hai. Em hổng giận chị.

– Nhớ…

– Thiệt. Má em chết, em đâu có thấy mặt. Em đẻ ra là má đi rồi. Em lớn lên, ai cũng nói với em "con mụ Huyên làm chết má mầy", nói hoài, nói hoài, mà em hổng biết giận ai. Em chỉ thấy người ta giận giùm em. Ba em giận, cô Út giận, người trong xóm giận. – Nhớ ngừng lại, lau nước mắt bằng tay áo. – Em đẻ thằng Su ở Quy Nhơn, nằm viện một mình, anh Tâm ở ngoài đảo hổng vô kịp. Em sợ muốn chết. Lần này em hổng muốn đi đẻ xa.

Nhớ nắm lấy tay Tường Lam, nắm chặt.

– Em muốn chị đỡ đẻ cho em. – Nhớ nói. – Ở đây. Ở cái đảo này. Chị chịu hông?

— Hết chương 10 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →