Chương 21: Tết Bính Ngọ
– Bác sĩ ăn Tết một mình ở trạm hả? Trời đất ơi, tội nghiệp chưa!
Cô Sen, vợ chú Cang, đặt cái giỏ tre xuống bàn khám, lôi ra từng thứ như người ta bày hàng. Hai đòn bánh tét gói lá chuối buộc lạt tre, một hũ dưa món củ kiệu đu đủ, một hộp bánh thuẫn vàng ươm. Một bịch bánh xèo còn ấm bọc giấy báo, và một cái nồi nhỏ thịt heo kho nước dừa với trứng vịt.
– Con ăn hổng hết đâu cô.
– Ăn hổng hết thì để dành tới mùng Năm. Tết ngoài đảo hổng có chợ đâu con. – Cô Sen quay sang chồng. – Ông coi con nhỏ ốm chưa kìa. Một năm nữa chắc nó bay theo gió bấc luôn.
Chú Cang đứng ở cửa, ca trà trong tay, cười hiền.
Chiều hai mươi chín tháng Chạp, trạm y tế xã đảo Hòn Trầu vắng tanh. Anh Thái đã về đất liền từ chuyến tàu sáng. Ri về nhà phụ má gói bánh. Chú Cang ghé qua một lần nữa trước khi về cúng tất niên, dặn đi dặn lại có gì thì gọi, nhà chú cách có năm phút. Năm Ất Tỵ không có ngày ba mươi, nên hai mươi chín đã là ngày cuối.
Ông Thuần gọi điện lúc bốn giờ. Ông ăn Tết ở nhà bác Hai bên Kim Long, mâm cỗ đông người, mà giọng ông vẫn như người ngồi một mình.
– Con không về được thì thôi. – Ông nói. – Má con hồi trẻ cũng trực Tết hoài. Ba quen rồi.
Tường Lam ngồi ở hiên, nhìn ra cầu cảng. Từ hồi gió bấc tới giờ, nhiều chuyện đã qua. Tàu Thuận Buồm đại tu xong, ra khơi ngày sáu tháng Một dương lịch, về hôm hai mươi bốn với mười bốn con cá ngừ, gặp giá Tết, trăm sáu mươi nghìn một ký. Lộng trả được một kỳ nợ ngân hàng, chia tiền cho lính, còn dư mua được cho bà nội cái máy tạo oxy nhỏ cô dặn. Út Nhớ bước sang tuần thứ ba mươi mốt, bụng tròn vượt mặt, hẹn ra Giêng siêu âm lại. Ông Năm Thới không uống rượu nữa. Không phải uống ít. Không uống. Ai mời, ông lắc đầu, nói "bác sĩ cấm". Ai hỏi bác sĩ nào, ông không trả lời.
Bảy giờ tối, cô bật cái đèn đỏ.
Mười một giờ, cô đã khâu cho một ông say rượu bị chai bia cứa tay lúc cúng tất niên, và cho một thằng nhỏ uống thuốc hạ sốt. Mười một giờ rưỡi, trạm lại yên. Cô hâm bánh xèo của cô Sen trên cái bếp điện nhỏ, ăn một mình, chấm nước mắm ớt, nghe gió bấc rít qua hàng bàng.
Gần mười hai giờ, có tiếng chân lên bậc tam cấp.
Lộng đứng dưới quầng đèn đỏ, tay cầm một cái dĩa có mấy khoanh bánh tét và một cái chén có nắp.
– Chè đậu trắng. – Anh nói. – Cô Út nấu. Cô Út hổng biết tui đem qua đây.
– Anh không ở nhà cúng giao thừa?
– Cúng xong rồi. Ba tui đốt nhang xong đi ngủ. – Anh ngồi xuống băng ghế. – Năm nay ba tui ngủ trước giao thừa. Hồi nào tới giờ, giao thừa là ổng say nằm ngoài hiên.
Họ ngồi ăn bánh tét. Nhân đậu xanh, mỡ heo, một chút tiêu, cái kiểu bánh tét Bình Định mà cô đã ăn ở nhà Út Nhớ, chắc, thơm, mặn mà. Gió lạnh. Cô quấn cái khăn len xám của ba quanh cổ, lần đầu tiên thấy nó thật sự có ích.
– Mấy giờ rồi anh?
Anh không nhìn đồng hồ. Anh nhìn ra vũng.
– Đợi chút.
Rồi từ ngoài vũng, một tiếng còi tàu rúc lên. Dài, trầm, vang qua mặt nước. Rồi tiếng thứ hai, từ một chiếc khác. Rồi tiếng thứ ba. Rồi cả vũng Bãi Nồm rúc còi, mấy chục chiếc tàu cá cùng lúc, tiếng trầm tiếng bổng chồng lên nhau, át cả tiếng gió. Từ Lăng Ông, trống nổi lên ba hồi. Đèn trên cột ăng ten của tàu nào cũng bật sáng, nhấp nháy trên mặt nước đen như một cái chợ đêm nổi.
– Giao thừa. – Lộng nói. – Dân biển hổng có pháo. Kéo còi tàu thế pháo.
Tường Lam đứng dậy, đi ra mép hiên nhìn. Cô không nói được gì. Ở Huế, giao thừa là tiếng pháo hoa trên sông Hương, là mùi trầm, là mẹ đứng trước bàn thờ khấn rất lâu. Ở đây, giao thừa là một vũng nước đầy những con tàu đang gọi nhau.
– Thuận Buồm của anh đâu?
– Cái thứ năm từ trái qua. Thằng Vững đứng trên đó kéo còi. Nó hứa với con Ri kéo đủ mười hai tiếng.
Cô đếm. Cái còi thứ năm từ trái qua rúc lên từng tiếng một, đều đặn, có chủ ý, giữa đám còi lộn xộn của những chiếc khác. Mười một. Mười hai. Rồi nó im, trong khi những chiếc khác vẫn còn kéo.
Cô cười. Cô quay lại.
Lộng đã đứng ngay sau lưng cô, gần lắm, dưới cái bóng đèn đỏ. Anh không nói gì. Cô cũng không nói gì. Tiếng còi tàu đang thưa dần. Cô thấy anh ngập ngừng, như hôm ở mũi tàu đêm tháng Mười, như đang đợi một tiếng gọi từ cabin. Lần này không có tiếng gọi nào. Lần này không có máy nóng.
Cô nhón chân lên.
Môi anh lạnh vì gió, có vị ngọt của chè đậu trắng. Anh đứng im một giây, như người không tin. Rồi tay anh đặt lên lưng cô, nhẹ, như người ta đặt tay lên một thứ dễ vỡ. Ngoài vũng, cái còi cuối cùng rúc lên một tiếng dài rồi tắt.
Khi họ rời nhau ra, anh vẫn không buông tay.
– Năm mới. – Anh nói, giọng khàn khàn.
– Năm mới. – Cô nói. – Đây là trên bờ đó anh. Không phải ngoài biển.
Anh cười, cái cười mà cô ít khi được thấy, mở hết ra, cái vết sẹo trên lông mày giãn ra hẳn.
– Ừ. – Anh nói. – Thì trên bờ.
Trưa mùng Một, Út Nhớ lên trạm, đứng ở cửa, tay chống lưng.
– Bà nội biểu chị qua nhà ăn cơm. Bà nội nói vậy đó, nguyên văn: "Biểu con nhỏ bác sĩ qua ăn cơm. Mùng Một mà để nó ăn bánh xèo nguội một mình, tổ tiên nhà này chửi."
– Còn ba em?
Nhớ nhún vai.
– Ba em nghe. Ba em hổng nói gì. Mà ba em là người đi bắt con gà.
Căn nhà ngói ba gian ở cuối xóm Bãi Nồm sạch bong, bàn thờ bày mâm ngũ quả, cặp bánh tét, hộp mứt gừng. Tấm ảnh má Lộng vẫn nằm trong hộp sắt khóa trong tủ. Nhưng hôm nay Tường Lam để ý trên bàn thờ có thêm một nhành mai rừng cắm trong cái lọ thủy tinh, cái loại mai năm cánh mọc trên đồi Mũi Trầu. Lộng nói nhỏ với cô: "Ba tui lên đồi bẻ hồi sáng sớm. Má tui thích mai."
Mâm cơm trải trên cái chiếu giữa nhà. Bà Bảy ngồi đầu mâm, trên cái gối kê cao, ống thở oxy của cái máy mới vắt qua tai. Ông Thới ngồi bên phải bà, chân phải duỗi thẳng. Tâm, Nhớ, thằng Su, Lộng. Và cô Út Gấm, ngồi ở góc xa nhất, cây gậy tre dựng sát vách. Chân cô Út đã tháo bột từ đầu năm dương lịch, đi được, nhưng còn khập khiễng.
Tường Lam ngồi xuống chỗ Nhớ chỉ, giữa Nhớ và Lộng, đối diện ông Thới.
Không ai nói gì trong mấy phút đầu. Bà Bảy gắp cho cô một miếng thịt kho, gắp cho thằng Su một miếng, rồi nói: "Ăn đi. Tết mà mặt đứa nào cũng như đi đám." Thằng Su phì cười. Rồi Tâm cười. Rồi Nhớ bắt đầu nói, nói một hơi về con Bốn Càng đã lột xác, về cái bánh tét bị bung lạt.
Ông Thới ăn ít. Ông không nhìn Tường Lam, nhưng cũng không nhìn đi chỗ khác. Mấy lần cô ngẩng lên, cô thấy ông đang nhìn bàn tay cô cầm đũa, nhìn cái ống tay áo trái của cô.
Gần cuối bữa, khi Nhớ đã dọn chén ra, ông Thới cầm lấy cái bình trà đặt giữa chiếu.
Ông rót. Một chén cho bà Bảy. Một chén cho mình. Rồi ông rót thêm một chén, đẩy nó qua chiếu, về phía Tường Lam. Không mạnh, không nhẹ. Cái chén dừng lại ngay trước mặt cô.
– Uống đi. – Ông nói. Chỉ vậy.
Cả nhà im phăng phắc. Thằng Su nhìn ông ngoại, nhìn cô bác sĩ, không hiểu vì sao người lớn bỗng dưng nín thở. Lộng ngồi bên cạnh cô, không nhúc nhích.
Tường Lam cầm chén trà bằng hai tay.
– Dạ. Con cảm ơn bác.
Cô uống. Trà mạn, chát, nóng.
Có tiếng gậy tre gõ xuống nền gạch.
Cô Út Gấm đã đứng dậy. Cô không nhìn ai. Cô chống gậy, đi ra cửa sau, đi khập khiễng qua bếp, ra vườn. Tiếng gậy gõ lộc cộc trên lối gạch rồi nhỏ dần.
– Gấm! – Bà Bảy gọi theo, giọng khò khè. – Gấm!
Không ai trả lời.
Ông Thới nhìn theo em gái một lúc, rồi quay lại, cầm chén trà của mình lên uống, như không có gì xảy ra.
– Kệ nó. – Ông nói.
Chiều mùng Một, cô Sen ghé trạm mang thêm bánh. Cô Sen ngồi lại chơi, kể một chuyện mà cô Sen nói cả đời cô chưa thấy. Sáng nay, ông Năm Thới chống gậy tới nhà chú Cang. Không báo trước. Đứng ở cổng, không vô. Chú Cang ra. Hai ông già đứng nhìn nhau qua cái cổng tre chừng một phút.
– Rồi ông Năm đưa cho ổng một bịch trà Bảo Lộc. – Cô Sen nói, mắt tròn xoe. – Loại ổng hay uống. Ông Năm nói "Chúc Tết". Hai chữ. Rồi đi về. Ổng đứng ở cổng cầm bịch trà tới mười phút sau mới vô nhà, con biết hông. Vô nhà ổng ngồi mở miệng ra, lấy ngón tay rờ cái răng bọc kim loại hoài.
Tường Lam cười, mà mắt cô cay.
Mùng Hai yên. Mùng Ba, gió bấc dịu xuống, trời hửng nắng. Người ta đi lễ Lăng Ông, đi chúc Tết, con nít mặc áo mới chạy đầy bãi. Cô ghé nhà ông Thới đo huyết áp cho bà Bảy lúc trưa. Bà mệt, môi hơi tím, cổ chân phù to hơn tuần trước. Cô chỉnh lại liều thuốc lợi tiểu, kê thêm một cái gối, dặn Nhớ coi chừng.
Lúc ra về, đi ngang cửa bếp, cô thấy cô Út Gấm ngồi trên cái ghế đẩu ngoài vườn, dưới gốc cây trứng cá. Trên đùi cô Út là cái lon sữa bột cũ. Cô Út đang lấy từng mảnh thủy tinh trong lon ra, giơ lên soi vào nắng, rồi xếp xuống cái mẹt tre trước mặt thành từng đống theo màu: xanh lá một đống, trắng đục một đống, nâu một đống. Đống xanh ngọc nhỏ nhất, chỉ có bảy, tám mảnh.
Tường Lam đứng lại ở cửa bếp. Cô không định đứng lại, nhưng chân cô dừng.
Cô Út ngẩng lên. Hai người nhìn nhau qua cái sân gạch nhỏ. Cô Út không nói gì. Cô Út cúi xuống, gom hết đống xanh ngọc bỏ trở vô lon, đậy nắp lại, rồi ôm cái lon vào lòng như người ta ôm một đứa nhỏ đang ngủ.
Mười một giờ đêm mùng Ba, điện thoại cô rung.
– Chị Hai! – Giọng Nhớ hoảng hốt. – Bà nội thở hổng được! Bà nằm hổng được, ngồi cũng hổng được! Bà kêu ngộp! Môi bà tím rồi chị ơi!
— Hết chương 21 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe