AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Cá Ông vào bãi Nồm

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 11/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Cá Ông vào bãi Nồm

Tiếng trống lăng nổi lên lúc năm giờ sáng thứ Bảy, ba hồi dài, chín tiếng một hồi.

Tường Lam chưa từng nghe tiếng trống đó. Cô nghe tiếng trống trường, tiếng trống lân, tiếng trống chùa ở Huế. Tiếng trống này khác. Nó trầm và đục, vọng ra từ phía Lăng Ông, lan qua những mái tôn, những hàng phi lao, những con thuyền còn ngủ, như ai đó đang đập lên một cánh cửa rất lớn ở giữa đảo.

Cô ra hiên. Khắp xóm Bãi Nồm, đèn trong các nhà bật sáng. Người ta đổ ra đường, áo xống xộc xệch, đi về phía đầu bãi.

– Cá Ông lụy rồi chị ơi! – Ri chạy ngang, tóc chưa chải. – Cá Ông vô bãi!

Đầu bãi Nồm, chỗ cát nhường cho mấy mỏm đá thấp, chỗ đêm rằm cô với Lộng đã đi qua, có một khối đen khổng lồ nằm nghiêng trong lằn nước. Thoạt nhìn, Tường Lam tưởng là một con thuyền úp. Rồi cô thấy cái vây lưng, thấy cái đuôi xòe ra như hai cánh quạt, thấy những vết xước trắng chằng chịt trên lớp da xám. Một con cá voi dài chừng tám mét. Nó đã chết. Mùi tanh nồng xộc vào mũi theo từng cơn gió.

Mấy trăm người đứng quanh, không ai nói lớn. Đàn ông bỏ mũ, đàn bà chắp tay. Mấy ông già quỳ xuống cát, khấn vái lâm râm. Ngay sát mép nước, cạnh cái đầu của con cá, có một người đàn ông quỳ, đầu đội khăn trắng, mình khoác tấm áo tang bằng vải xô thô còn nguyên nếp gấp.

Lộng.

– Anh Hai thấy trước. – Ri thì thầm. – Anh Hai đi dọc bãi từ bốn giờ sáng, hổng ngủ được, thấy cá Ông nằm đây. Ai thấy trước thì làm trưởng nam. Để tang cho cá Ông như để tang cha mẹ.

Tường Lam đứng lẫn trong đám đông, nhìn anh. Anh quỳ thẳng lưng, hai tay đặt lên đùi, mắt nhìn con cá. Gió biển thổi tung vạt áo tang. Anh không khóc, nhưng mặt anh có một vẻ gì đó mà cô chưa từng thấy, như người vừa được trao một thứ quá nặng mà không được phép từ chối.

Cô biết về tục này qua mấy trang sách đọc từ hồi đi học, chưa bao giờ nghĩ có ngày tận mắt thấy. Dân biển miền Trung thờ cá voi như một vị thần cứu nạn, gọi là cá Ông. Ông lụy, tức là chết dạt vào bờ, thì cả làng làm lễ tang như đám tang người. Người đầu tiên thấy xác Ông phải làm con trưởng, chịu tang. Sau mấy năm, người ta cải táng, đưa xương Ông vào thờ trong lăng.

Cô không hiểu tất cả, và cô biết là mình không cần hiểu tất cả. Cô chỉ biết đứng nghiêm, như mọi người.

Cả ngày hôm đó, xóm Bãi Nồm làm đám tang cá Ông.

Đàn ông kéo con cá lên bờ bằng dây thừng to bằng cổ tay, mấy chục người một bên dây, hò dô ta theo nhịp trống. Đàn bà nấu cơm, nấu chè, bày lễ trên những cái chiếu trải dọc bãi. Mấy ông già trong ban quý tế lăng mặc áo dài đen, đội khăn đóng, đứng điều khiển mọi việc. Ông Tư Rớt cũng có mặt, ngồi trên một cái ghế đẩu dưới gốc phi lao vì chưa đứng lâu được. Nhưng mỗi khi có ai làm sai một bước lễ là ông lại giơ tay chỉ, giọng còn hơi ngọng nhưng rõ ràng.

Người ta đào một cái huyệt lớn trên bãi cát cao, gần Lăng Ông, phía trong mấy hàng phi lao. Gần trưa, khi con cá được đưa vào huyệt, Lộng đi đầu, trên tay bưng cái lư hương, sau lưng là cả trăm người nối nhau đi.

Tường Lam đi phía cuối. Trưa tháng Mười mà nắng vẫn gắt, cát nóng hầm hập dưới đế dép. Không khí đặc quánh mùi nhang, mùi tanh, mùi mồ hôi người.

Đi được nửa đường thì một bà cụ phía trước cô loạng choạng, rồi ngã quỵ xuống cát.

Đám đông dạt ra. Có tiếng la. Một người đàn bà trung niên chạy tới, quỳ xuống, lay bà cụ: "Má! Má ơi!". Tường Lam chen vào.

– Để em coi. – Cô nói.

Người đàn bà ngẩng lên, thấy cô, thoáng ngập ngừng. Chỉ một thoáng. Rồi bà ta lùi ra.

Bà cụ chừng tám mươi, người nhỏ thó, mặt tái nhợt, mồ hôi rịn ướt trán. Mạch nhanh, yếu. Thở đều. Không méo miệng, không yếu tay chân. Tường Lam nhờ hai thanh niên khiêng bà vào bóng mát dưới hàng phi lao, đặt nằm ngửa, kê hai chân lên cái giỏ đựng lễ cho cao hơn đầu, nới lỏng hàng nút áo. Cô dùng cái nón lá quạt cho bà. Ba phút sau, bà cụ mở mắt.

– Bà nghe con nói không bà?

– Nghe… – Bà cụ thều thào. – Nắng quá…

– Dạ, nắng quá. Bà nằm nghỉ, đừng ngồi dậy vội.

Cô đợi bà tỉnh hẳn, đỡ bà ngồi dậy từ từ, cho bà uống từng ngụm nhỏ nước pha chút muối đường. Bà cụ uống, rồi nhìn cô.

– Con ở đâu dị?

– Con ở trạm y tế, bà.

Bà cụ gật gù, không nói gì thêm. Người đàn bà trung niên, con gái bà, cầm lấy cái ly từ tay Tường Lam.

– Cảm ơn. – Bà ta nói. Hai chữ, cụt lủn, mắt nhìn xuống cát. Rồi bà ta dìu mẹ đi về phía mấy cái chiếu có bóng râm, không ngoái lại.

Tường Lam đứng dậy, phủi cát trên đầu gối. Cô ngẩng lên, và thấy ông Năm Thới.

Ông đứng cách cô chừng mười bước, dựa vào thân một cây phi lao, chống gậy. Ông đã thấy hết. Mặt ông đỏ vì nắng, vì rượu, vì cái gì đó khác. Ông nhìn cô, nhìn bà cụ vừa được dìu đi, rồi nhìn về phía cái huyệt nơi con trai ông đang quỳ.

Rồi ông nhổ một bãi nước bọt xuống cát. Rồi ông quay đi.

Lúc những xẻng cát cuối cùng phủ lên lưng con cá, ông Tư Rớt bỗng chống tay đứng dậy khỏi cái ghế đẩu. Chị Tươi chạy tới đỡ, ông gạt ra. Ông đứng thẳng, hai bàn tay to bè buông xuôi, nhìn về phía cái huyệt. Rồi ông cất giọng.

Giọng ông không còn vang như trong tấm ảnh treo trên vách nhà. Nó khàn, rè, chữ trước dính vào chữ sau, có chỗ méo đi vì cái khóe miệng chưa nghe lời. Nhưng đó là một câu hát. Một câu hát tiễn Ông về biển, chậm, dài, kéo lê trên mặt cát như một cái lưới nặng. Cả bãi im phăng phắc. Mấy ông già trong ban quý tế cúi đầu. Lộng, đang quỳ trước huyệt, ngẩng lên nhìn ông Tư.

Ông hát được bốn câu thì dừng, thở dốc, ngồi phịch xuống ghế. Không ai vỗ tay. Không ai nói gì. Nhưng Tường Lam thấy chị Tươi khóc, và thấy ông Tư, giữa đám đông, quay đầu tìm cô, rồi gật đầu một cái rất khẽ.

Chiều tối, khi lễ đã xong, khi đám đông đã tản, khi chỉ còn mấy ông trong ban quý tế ngồi uống trà trong lăng, Tường Lam đi ra sân Lăng Ông.

Lăng nhỏ, cổ, mái ngói âm dương phủ rêu xanh, hai bên cửa có hai con rồng đắp nổi bằng mảnh sành. Sân lát gạch Bát Tràng đã mòn vẹt. Ở góc sân có một cây đa già, rễ phụ buông xuống như những sợi thừng. Lộng ngồi dưới gốc cây đa, vẫn mặc áo tang, khăn tang đã tháo ra cầm trong tay.

Cô ngồi xuống bên cạnh, cách một khoảng.

– Mệt không anh?

– Mệt. – Anh nói. Rồi một lúc sau. – Hồi sáng thấy cá Ông, tui đứng sững. Tui nghĩ, ba mươi mốt năm sống ở cái đảo này, tui chưa thấy Ông vô bờ. Vậy mà Ông chọn đúng cái tuần này.

Cô không biết nói gì. Anh cũng không chờ cô nói.

– Hồi chiều cô cứu bà Chín. – Anh nói. – Bà Chín là má của bà Tư Hoa, cái bà ngoài chợ hay nói cô hổng biết nghề đó.

– Em không biết.

– Biết hay hổng biết cô cũng cứu. – Anh nói. Rồi anh quay sang, nhìn cô. Lần đầu tiên từ cái đêm ở hàng dương, anh nhìn thẳng vào mặt cô. – Mấy bữa nay cô sao rồi?

Cô kể. Kể về cái bóng đèn bị đập, về cái trạm vắng tanh, về bà Sáu với gói xôi mỗi sáng, về ông Tư Rớt với chén trà. Rồi cô kể chuyện chú Cang. Cô kể chậm, kể đủ, không thêm không bớt: cái gõ cửa lúc tám giờ, giọng con gái ngoài mưa, hai cái bóng đi lên con đường mòn sang Gành Đen. Bà Bảy đập cửa lúc mười giờ rưỡi. Mẹ cô về lúc một giờ với vạt áo dính máu, con Nhớ ra lúc một giờ bốn mươi, rồi máu, rồi hai tiếng đồng hồ quỳ ép tử cung, rồi tiếng gà gáy.

Lộng ngồi im, nghe hết. Bàn tay anh vò cái khăn tang thành một nắm.

– Băng huyết sau khi sinh. – Cô nói. – Lúc đó má em có mặt. Em không nói để bào chữa. Em nói vì đó là điều chú Cang thấy.

– Tui nghe. – Anh nói.

– Còn một điều. – Cô ngập ngừng. – Em hỏi chú Cang, đêm đó ba anh ở đâu. Chú không trả lời. Chú nói chuyện đó không phải chuyện của chú.

Lộng im lặng rất lâu. Trong lăng vọng ra tiếng mõ, tiếng mấy ông già đọc kinh. Một con dơi chao qua đầu hai người, rồi lẩn vào tán đa.

– Năm tui mười tuổi, – Lộng nói, – có bữa ba say, kể chuyện đêm đó. Ba kể từ chỗ bà nội chạy đi kêu bà mụ. Lần nào ba cũng kể từ chỗ đó. Tui hỏi: "Còn ba ở đâu?". Ba tát tui một cái, tát tui té xuống nền nhà. Bà nội ôm tui, nói "Mầy đừng hỏi ba mầy câu đó nữa nghen con". Tui hổng hỏi nữa. Hai mươi mốt năm rồi.

Anh xòe bàn tay ra. Cái khăn tang nhàu nát trong lòng bàn tay anh.

– Tui nghĩ ba ở nhà. Tui nghĩ ba ngồi ôm má, ba bất lực, ba đau quá nên ba hổng kể nổi. – Anh nói. – Giờ cô nói chú Cang hổng chịu nói. Bà nội hổng cho hỏi. Ba tát tui.

Anh không nói tiếp. Anh không cần nói tiếp.

– Em xin lỗi. – Tường Lam nói. – Em không có ý…

– Cô đừng xin lỗi. – Anh nói. Giọng anh trầm xuống. – Tui hổng giận cô. Mấy bữa nay tui nằm dưới tàu, tui nghĩ hoài. Tui hổng giận cô. Tui giận cái đêm đó. Tui giận cái đêm đó ba mươi năm rồi, mà tui hổng biết cái đêm đó là cái gì.

Anh đứng dậy, phủi cát trên áo tang. Ánh đèn trong lăng hắt ra, vẽ một vệt sáng vàng trên khuôn mặt anh, trên vết sẹo ở lông mày trái.

– Thứ Năm này giỗ má tui. – Anh nói. – Mười tháng Chín âm lịch. Năm nào tới bữa đó ba cũng uống, uống từ trưa tới khuya, uống tới nằm gục ngoài hiên. Năm ngoái ổng than tức ngực, tui đòi chở vô bờ, ổng chửi tui. – Anh ngừng lại. – Năm nay ổng còn thêm cô để chửi.

– Em biết. Em sẽ ở trạm.

Anh gật đầu. Anh bước đi được mấy bước, rồi dừng lại, không quay đầu.

– Đèn trạm còn sáng hông?

– Còn. Em gắn lại rồi.

– Ừ. – Anh nói. – Để đó. Đừng tắt.

Anh đi ra cổng lăng, cái bóng áo tang trắng loang loáng trong bóng tối, đi về phía cầu cảng, nơi con tàu Thuận Buồm đang nằm im giữa vũng. Tường Lam ngồi lại dưới gốc đa. Trong lăng, tiếng mõ vẫn đều đặn. Ngoài bãi, sóng vẫn vỗ lên chỗ cát mà sáng nay một con cá voi đã chọn để nằm xuống.

Cô nhìn đồng hồ. Còn năm ngày nữa là thứ Năm.

— Hết chương 11 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →