AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 2/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng

– Mua ở chợ Đông Ba. – Tường Lam kéo ống tay áo xuống. – Ở Huế, mấy bà bán đồ lưu niệm tết đủ kiểu.

Lộng nhìn cô thêm một giây, rồi gật, cái gật của người không tin nhưng cũng không định cãi.

– Dị hả.

Anh đứng dậy đi lên cabin. Tường Lam ngồi lại với thằng Cò, tay đặt lên cái vòng dưới lớp vải áo, như sợ nó tự cởi ra mà chạy mất. Cả quãng đường còn lại, cô không nôn nữa. Cô không biết là nhờ gừng hay nhờ có chuyện khác để nghĩ.

Một giờ ba mươi lăm, tàu cập cảng cá. Xe cấp cứu đã đậu sẵn dưới cột đèn, đèn xoay xanh đỏ quét lên đống thùng xốp chất cao. Cô gọi cho khoa cấp cứu từ lúc còn trên biển, người trực đêm là chị Hạnh, điều dưỡng trưởng ca, nghe giọng cô liền la lên: "Ủa, Tường Lam? Mới ra đảo có nửa ngày mà đã chở bệnh nhân vô rồi hả em?"

Cô đi theo xe về viện, bàn giao từng thứ: giờ bị thương, giờ tiêm, lượng dịch đã truyền, cái túi ni lông nằm trong thau nước đá. Bác sĩ trực chấn thương chỉnh hình là một anh lớn hơn cô mấy khóa. Anh mở băng, nhìn, rồi nhìn cái túi.

– Đầu ngón út dập nát quá, không nối được. Nhưng bọc kiểu này là đúng bài. Ai ở đảo dạy em?

– Em học ở trường.

– Ở trường dạy hết, ra đảo mấy ai làm đúng. – Anh cười. – Ba ngón kia giữ được. Lên mổ.

Lộng đứng ở cuối hành lang, chỗ có cái máy bán nước đã tắt đèn. Anh vẫn mặc cái áo ba lỗ dính máu, chỉ khoác thêm cái áo mưa của chú Mười Ốc. Mấy người nhà bệnh nhân ngồi ngủ gục trên dãy ghế inox nhìn anh rồi lảng ra xa.

– Ba ngón còn. – Cô nói. – Mất hai đốt ngón út với một đốt ngón áp út.

Anh thở ra. Cô nghe được cái tiếng thở đó giữa tiếng quạt trần.

– Tui đi kêu thằng Vững với chú Mười coi tàu. Bác sĩ… cô ăn gì chưa?

– Chưa. Mà giờ này ăn gì?

– Ra cảng. Năm giờ có bánh mì.

Họ ngồi trên bậc thềm khoa cấp cứu tới gần năm giờ, không nói gì nhiều. Có lúc cô ngủ gục, đầu chạm vào cột. Khi cô mở mắt thì trời đã xám, và Lộng đứng sẵn dưới sân, tay đút túi quần.

Cảng cá lúc năm giờ sáng ồn như cái chợ bị ai lật ngược. Ghe thúng chen ghe máy, tiếng máy nổ lụp bụp, tiếng người gọi nhau í ới qua mặt nước. Mấy bà bán cá đội thúng chạy lúp xúp trên cầu tàu, nước đá tan chảy ròng ròng xuống bắp chân. Mùi cá tươi, mùi cá ươn, mùi dầu, mùi khói bếp quyện thành một thứ mùi mà Tường Lam nghĩ cả đời cô không quên được.

Xe bánh mì đậu ở góc cổng, dưới một cây bàng già. Chủ xe là một bà tóc bạc, đeo găng tay ni lông, kẹp chả với dưa leo nhanh như người ta chia bài. Lộng gọi hai ổ, không hỏi cô ăn gì. Ổ bánh nóng giòn, nhân chả cá với ớt xanh, mười lăm nghìn một ổ. Anh trả tiền, đưa cho cô một ổ, rồi đi sang xe cà phê bên cạnh mua hai ly cà phê đá.

Cô cắn một miếng. Chả cá dai, ngọt, ớt xanh cay xè.

– Ngon. – Cô nói, giọng nghẹt.

– Chả cá thu. Bả làm từ hồi tui còn mặc quần xà lỏn.

Họ ngồi trên hai cái ghế nhựa thấp, quay mặt ra bến. Một chiếc tàu lớn vừa cập, người ta thả từng con cá ngừ to bằng đứa con nít xuống cầu tàu, nằm thẳng hàng trên lớp bạt xanh, bụng trắng bạc lấp lánh.

– Hồi đêm anh nói tôi là người thứ hai hỏi cái tên Lộng nghĩa là gì. – Cô nói. – Người thứ nhất là ai?

Lộng uống một ngụm cà phê, lâu mới trả lời.

– Má tui. Bà nội kể, má tui đòi đặt tên tui là Bình, cho nó bình yên. Ông nội nói nhà này làm biển, phải đặt theo biển. Má cãi hông lại, mới hỏi ông nội: "Lộng là gì cha?" Ông nội nói lộng là vùng biển gần bờ. Má nói: "Dị thì đặt Lộng cũng được, cho nó ở gần." Ông nội cười, nói: "Hổng phải cho nó ở gần. Cho nó nhớ đường về."

– Má anh giờ…

– Má tui mất lúc tui hai tuổi.

Cô không hỏi thêm. Lộng cũng không kể thêm. Anh nhìn mấy con cá ngừ nằm trên bạt.

– Cô làm ở viện này hả?

– Dạ. Từ năm ngoái. Viện có chương trình cử bác sĩ trẻ về trạm y tế xã đảo, mỗi người một năm.

– Hai năm nay hông có ai ra. – Lộng nói. – Người ta nói đảo Hòn Trầu xui với bác sĩ.

– Xui răng?

Anh quay sang nhìn cô, khóe miệng giật nhẹ.

– Cô nói tiếng Huế lúc nào cô hông để ý ha.

Cô đỏ mặt. Anh không trả lời câu hỏi của cô, mà kể sang chuyện khác: anh từng học trường hàng hải ở Đà Nẵng, hai năm, ngành điều khiển tàu biển. Năm thứ ba thì ba anh bị tời dập bàn chân, ngay trên chiếc tàu cũ. Anh về, cầm lái thay, rồi không đi học lại nữa.

– Tiếc không anh?

– Tiếc chi. Học để lái tàu. Giờ tui lái tàu.

Cô biết anh nói dối, giống như cô nói dối về chợ Đông Ba. Cô thấy cái cách anh nhìn chiếc tàu hàng to đang neo ngoài vũng, ống khói sơn đỏ, cao như cái nhà ba tầng. Nhưng cô không nói ra. Mỗi người được giữ một lời nói dối trong bữa sáng đầu tiên. Cô nghĩ vậy là công bằng.

Bảy giờ, bác sĩ mổ ra báo: ổn, ba ngón còn lại có máu nuôi tốt, phải nằm viện năm bảy ngày. Lộng phải đưa tàu về đảo, lính tàu còn chờ chia tiền chuyến cá. Cô ở lại đợi mẹ thằng Cò ra chuyến tàu khách sáng.

Lúc chia tay ở cổng viện, Lộng đứng lại.

– Cảm ơn bác sĩ.

– Không có chi.

Anh gật đầu, quay đi được mấy bước rồi lại quay lại, móc trong túi ra một lát gừng gói trong mảnh giấy báo.

– Chú Mười gửi. Chiều cô đi tàu khách thì ngậm.

Cô cầm lát gừng, không biết nói gì, chỉ gật. Anh đi thẳng ra cảng, dáng đi hơi nghiêng về bên trái như người quen đứng trên sàn tàu chòng chành.

Mẹ thằng Cò tới lúc mười một giờ trưa, ôm một giỏ trái cây với một nồi cháo cá bọc khăn. Bà nắm tay Tường Lam cứ lắc mãi. Cô dặn bà mấy điều cần dặn, rồi đi bộ ra cái chợ nhỏ gần cảng. Ở một sạp điện nước chật như cái hộp, giữa đống ổ cắm, dây điện, vòi sen, cô tìm được một thứ: bóng đèn tròn màu đỏ, loại người ta hay gắn trên bàn thờ.

– Mua một cái hả con? – Ông chủ sạp hỏi. – Đèn bàn thờ là phải mua cặp.

– Một cái thôi chú.

Chuyến tàu hai giờ chiều, cô ngậm gừng suốt hai tiếng và chỉ nôn một lần.

Trạm y tế xã đảo Hòn Trầu nằm trên một gò đất thấp sau xóm Bãi Nồm, cách cầu cảng chừng ba trăm mét. Nhà một tầng sơn vàng, mái tôn đỏ, hiên rộng, trước sân có hai cây bàng và một cột cờ. Chiều qua cô tới trong trạng thái say sóng nên chưa nhìn được gì. Chiều nay, Ri đi trước dẫn đường, nói không ngừng.

– Đây là phòng khám, chị. Đây là phòng sinh, có một bàn sinh, đèn mổ hư một bóng. Đây là phòng lưu bệnh, sáu giường, mùa mưa dột chỗ giường số bốn, chị đừng cho ai nằm giường bốn. Máy siêu âm đây, đen trắng, chú Cang nói mua năm hai ngàn mười hai, chạy còn tốt, có điều chiều nào trời nóng quá là nó tự tắt. Kho thuốc thì anh Thái giữ, anh Thái người đất liền, thứ Sáu về, thứ Hai ra. Máy phát điện ở sau, chị đừng đụng, cái đó chỉ anh Thái với chú Cang nổ được.

– Em làm ở đây lâu chưa Ri?

– Bốn năm. Em người Bãi Nồm, học trung cấp ở Quy Nhơn rồi về. Hai năm nay hông có bác sĩ, chuyện gì cũng chạy vô bờ. Năm ngoái có bà đẻ ngôi mông, tụi em đỡ được, mà đỡ xong em về nhà khóc cả đêm.

Cô đi một vòng, nhìn từng thứ: cái tủ lạnh vắc xin dán băng keo ghi nhiệt độ bằng bút bi, ba bình oxy lớn sơn xanh đứng dựa tường, một cái bóng bóp sơ sinh còn nguyên bao. Trên tường phòng khám có treo một tấm bằng khen đã ố vàng. Cuối cùng cô đứng ở hiên trước.

Giữa hiên, ngay trên khung cửa chính, có một cái đui đèn gắn vào tường. Đui trống, dây điện đã bám bụi.

– Cái đui này để làm chi Ri?

– Chú Cang nói hồi xây lại trạm, thợ gắn theo bản vẽ cũ. Hồi xưa… – Ri nhăn mặt nhớ. – Má em kể, hồi trạm còn là trạm xá vách ván, có một đời cô mụ treo bóng đèn đỏ ở hiên. Đèn sáng là có người trực, ai đau ốm nửa đêm cứ thấy đèn là tới gõ cửa. Mà lâu rồi, từ hồi em chưa sinh.

Tường Lam không nói gì. Cô vào phòng lấy cái bóng đèn đỏ trong túi xách, kéo cái ghế đẩu ra hiên.

Ở Huế, nhà cô trong một cái kiệt nhỏ gần chợ Bến Ngự. Hồi cô còn bé, mỗi đêm mẹ có lịch trực ở trạm y tế phường, hay những đêm mẹ biết sắp có một sản phụ trong xóm chuyển dạ, mẹ lại bật cái bóng đèn đỏ ngoài hiên. Người trong kiệt nhìn đèn là biết bà mụ đang thức, có chuyện gì cứ đập cửa. Cô lớn lên dưới cái quầng đỏ đó, ngủ thiếp đi trong cái quầng đỏ đó. Mẹ không bao giờ nói vì sao lại là màu đỏ. Mẹ chỉ nói: "Đèn sáng là còn người."

Cô đứng lên ghế, vặn bóng đèn vào đui. Ri chạy vào bật công tắc thử từng cái, cái thứ ba thì ngoài hiên sáng lên một quầng đỏ ấm, rọi xuống mấy bậc tam cấp.

– Đẹp quá chị!

Tường Lam bước xuống ghế. Lúc đó cô mới thấy chú Cang đứng dưới gốc bàng ngoài sân, tay cầm cái ca trà, không biết đứng đó từ bao giờ. Ông nhìn ngọn đèn rất lâu. Nước trà trong ca nguội đi mà ông không uống.

– Ai bày cho con treo đèn đỏ? – Ông hỏi, giọng thấp.

– Má con làm hộ sinh, chú. Hồi nhỏ nhà con có cái đèn rứa.

Chú Cang gật đầu chầm chậm.

– Ừ. Đẹp. – Ông nói, rồi quay đi ra cổng, cái ca trà vẫn còn đầy.

Chín giờ tối hôm đó, có người gõ cửa. Một bà cụ dắt ông chồng bị lưỡi dao cắt cá cứa vào lòng bàn tay, máu thấm đỏ cái khăn rằn. Cô khâu sáu mũi. Bà cụ đứng nhìn, miệng móm mém nhai trầu.

– Tui thấy đèn đỏ sáng, tui biết có người. – Bà nói, như nói một điều hiển nhiên. – Hồi xưa cũng dị.

– Hồi xưa là hồi nào bà?

Bà cụ nhìn cô, rồi nhìn ông chồng, rồi lắc đầu.

– Hồi xưa là hồi xưa.

Sáng hôm sau, thứ Tư, trạm có lịch đo huyết áp cho người già. Từ bảy giờ đã có mười mấy cụ ngồi trên băng ghế dài ngoài hiên, ông nào cũng ngậm điếu thuốc chưa châm, bà nào cũng nhai trầu. Tường Lam đo từng người, ghi vào sổ, dặn dò từng câu. Gần chín giờ, một bà cụ chống gậy trúc đi vào, lưng còng, tóc bạc trắng búi củ hành, đôi mắt mờ đục như phủ một lớp nước vo gạo.

– Bà Bảy Giỏi. – Ri thì thầm bên tai cô. – Bà nội anh Hai Lộng đó chị.

Bà Bảy ngồi xuống ghế, đặt cánh tay lên bàn. Cô quấn băng đo, bơm, nhìn kim đồng hồ. Một trăm sáu mươi trên chín mươi. Cô cúi xuống nhìn hai cổ chân bà. Phù, ấn vào lõm một hố nhỏ.

– Bà nằm ngủ có khó thở không bà?

– Khó. Tui phải chêm hai cái gối. – Bà nói. – Thằng Lộng nói con chở thằng Cò vô bờ hồi đêm kia.

– Dạ.

– Nó nói con ói dữ lắm.

Cô cười.

– Dạ. Ói dữ lắm bà.

Bà Bảy không cười. Bà vươn bàn tay nhăn nheo, lạnh và khô như vỏ cây, nắm lấy cổ tay cô, đúng chỗ đeo chiếc vòng cước dưới lớp tay áo. Bà kéo cô lại gần, gần tới mức cô ngửi được mùi trầu cay nồng, mùi dầu gió, mùi áo cũ phơi nắng. Đôi mắt mờ đục nhìn thẳng vào mặt cô, đi từ trán xuống cằm, chậm như người ta lần tay trên một tấm ván để tìm vết nứt.

– Con giống một người. – Bà Bảy nói. – Một người hồi xưa ở đảo này.

— Hết chương 2 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →