Chương 8: Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm
– Ghe ông Sáu Hên lủng đáy ở Rạn Bà. Ông Sáu bị thương, thở hổng được. Cô đi hông?
Lộng đứng ở cửa phòng khám, áo thun ướt đẫm mồ hôi, tay còn cầm cái máy bộ đàm cầm tay đang kêu rè rè. Tám giờ tối thứ Hai. Tường Lam vừa khâu xong cái cằm một thằng nhỏ té xe đạp.
– Đồn đâu anh?
– Ca nô Đồn đang tuần bên kia đảo, về tới đây phải bốn chục phút. Anh Quang đang chạy xuống tàu tui. Rạn Bà cách đây bốn hải lý về phía bắc, tàu tui chạy hai mươi lăm phút.
– Tàu anh đang sửa máy mà.
– Ráp xong chiều qua. – Anh nói, và cô nghe được cái ngập ngừng nửa giây trong giọng anh. – Chưa chạy thử.
Cô không hỏi thêm. Cô vớ túi cấp cứu, bỏ thêm vào mấy cây kim luồn cỡ lớn, bình oxy xách tay, bộ dụng cụ khâu, thuốc giảm đau, dịch truyền. Ri đứng ở cửa phòng sinh, mặt tái mét.
– Chị… để em đi.
– Em ở trạm. – Tường Lam nói. – Chị về liền.
Tàu Thuận Buồm 09 rời cầu cảng lúc tám giờ mười hai. Máy rú lên một tiếng dài, khục khặc mấy cái, rồi chạy đều. Dưới hầm, Vững gào lên một câu gì đó, nghe như "Ngon rồi anh Hai!". Thượng úy Quang và hai chiến sĩ trẻ đứng ở boong trước, áo phao màu cam, đèn pin rọi ra phía trước. Đêm không trăng. Mặt biển đen như mực, chỉ có những vệt bọt trắng chạy dọc hai bên mạn tàu.
– Trên ghe có mấy người? – Tường Lam hỏi.
– Ba. – Lộng nói. – Ông Sáu với thằng Lụi, thằng Tú Đen, hai đứa lính tui gởi qua đi lưới tạm. Thằng Lụi gọi về nói ghe đâm rạn, ông Sáu té đập ngực vô be ghe, giờ thở hổng ra hơi.
Hai mươi lăm phút sau, họ thấy một đốm đèn pin chớp chớp phía trước, chớp ba cái, ngừng, chớp ba cái nữa. Lộng bật hết mười hai bóng đèn câu cá.
Mặt biển bừng sáng như ban ngày. Tường Lam chưa từng thấy cảnh này. Ánh đèn trắng xanh hắt xuống nước, nhìn thấu cả những rạn san hô lởm chởm ngay dưới mặt sóng. Thấy cả đàn cá nhỏ bị ánh sáng hút tới, xoay vòng lấp lánh như một nắm bạc vụn ai vừa thả xuống. Giữa vùng sáng đó, chiếc ghe gỗ của ông Sáu nằm nghiêng, mũi kẹt trên một mỏm đá đen, nước tràn vào lòng ghe tới nửa mạn.
Lụi đứng trên ghe, nước tới đầu gối, ôm ông Sáu trong tay. Tú Đen đang dùng cái thùng sơn tát nước liên tục.
Lộng cho tàu áp sát từ phía ngoài rạn, chậm, chính xác tới từng mét. Thượng úy Quang quăng dây. Hai chiến sĩ nhảy sang ghe. Họ buộc ông Sáu vào một tấm ván, chuyền sang tàu qua hai mạn đang nhồi lên nhồi xuống theo sóng. Tường Lam đỡ lấy đầu ông, đặt ông nằm trên tấm bạt dưới mái che, đúng cái chỗ thằng Cò đã nằm một tháng trước.
Ông Sáu bảy mươi tuổi, người nhỏ, râu tóc bạc trắng, môi tím tái. Ông thở nhanh và nông, mỗi lần hít vào là cả cái thân gầy giật lên, cánh mũi phập phồng. Tường Lam xé toạc áo ông ra. Ngực phải sưng bầm một vệt lớn, ấn vào lạo xạo như giẫm lên lá khô. Gãy xương sườn. Cô áp ống nghe. Bên trái nghe tiếng rì rào của phổi. Bên phải… im. Không có gì. Như áp tai vào một cái thùng rỗng.
– Đèn. Rọi vào cổ ông.
Vững không biết đã trèo lên từ hầm máy lúc nào, cầm cái đèn pin rọi xuống. Mạch máu ở cổ ông Sáu căng phồng lên như hai sợi dây thừng. Khí quản lệch hẳn sang trái. Cô bắt mạch cổ tay. Nhanh, yếu, gần như không bắt được.
Tràn khí màng phổi áp lực. Xương sườn gãy đâm thủng phổi, không khí lọt ra ngoài mà không thoát được, dồn ép lên phổi, lên tim. Mấy phút nữa tim ông sẽ không bơm máu được nữa.
– Anh Quang, giữ vai ông. Anh Vững, đèn đừng run.
Cô sát trùng nhanh ngực phải của ông, đếm xương sườn bằng đầu ngón tay. Khoang liên sườn hai, ngay đường giữa xương đòn. Cô cầm cây kim luồn cỡ lớn nhất, đặt mũi kim sát bờ trên xương sườn dưới.
Tàu nhồi lên một nhịp. Cô chờ. Tàu hạ xuống.
Cô đâm vào.
Có một tiếng xì nhỏ, nghe rõ giữa tiếng máy tàu, như tiếng lốp xe xì hơi. Rồi ông Sáu hít vào một hơi rất dài, rất sâu, sâu tới mức cả người ông như được ai nhấc lên khỏi mặt bạt.
Cô rút lõi kim, để lại cái ống nhựa, cố định bằng băng keo. Áp ống nghe. Bên phải đã có tiếng rì rào trở lại, yếu, nhưng có. Mạch cổ tay chậm lại, rõ dần dưới ngón tay cô.
Cô ngẩng lên định nói gì đó với Vững thì cái đèn pin rớt xuống boong, lăn lông lốc. Vững, cái thân hình như cái tủ lạnh, từ từ sụm xuống, ngồi bệt, rồi nằm vật ra bên cạnh ông Sáu, mắt trợn ngược.
– Trời đất! – Thượng úy Quang la lên.
– Nó thấy máu. – Lộng nói từ trên cabin, giọng bình thản. – Kệ nó, chút nó tỉnh.
Tường Lam cúi xuống kiểm tra. Vững thở đều, mạch đều, chỉ là ngất. Cô kê chân anh ta lên cái thùng xốp. Một phút sau, Vững mở mắt, nhìn quanh ngơ ngác.
– Em… em xỉu hả chị?
– Xỉu.
– Chị… chị đừng nói con Ri nghen chị. – Vững thều thào. – Em lạy chị.
Thượng úy Quang cười phá lên. Hai chiến sĩ trẻ ở bên ghe cũng cười. Tường Lam cũng cười, cười tới mức phải ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu gối. Rồi cô nhận ra cái run tay mà cô đã giữ lại suốt từ lúc cầm cây kim giờ mới bắt đầu, run bần bật.
Có một bàn tay đặt lên vai cô. Lộng đã xuống từ cabin, ngồi xổm bên cạnh.
– Xong rồi. – Anh nói nhỏ. – Ông Sáu thở rồi.
– Ông cần đặt ống dẫn lưu ở bệnh viện. – Cô nói, giọng run. – Phải vô Quy Nhơn ngay.
– Tui biết. – Anh đứng dậy. – Quang, anh coi bên ghe giùm tui.
Họ chia ra trong mười phút. Hai chiến sĩ và Thượng úy Quang ở lại với Lụi, Tú Đen, bơm nước, vá tạm chỗ thủng bằng tấm bạt và miếng ván, chờ ca nô Đồn tới kéo ghe về đảo. Tàu Thuận Buồm chạy thẳng vào bờ.
Một giờ bốn mươi phút sau, ông Sáu nằm trên băng ca của khoa cấp cứu. Bác sĩ trực nhìn cái ống nhựa trên ngực ông, nhìn Tường Lam, hỏi đúng câu mà một tháng trước người khác đã hỏi:
– Làm trên tàu hả?
– Dạ.
– Đèn gì?
– Đèn pin. – Cô ngừng một chút. – Với mười hai bóng đèn câu cá.
Bác sĩ trực lắc đầu, cười, rồi đẩy băng ca vào trong.
Họ rời cảng lúc gần một giờ sáng. Vững lái. Lộng ngồi ở mũi tàu, lưng dựa vào cái tời neo, và Tường Lam, sau khi đi một vòng không biết làm gì, ngồi xuống cạnh anh.
Trăng đã lên. Trăng hai mươi hai, khuyết một bên, vàng úa, treo thấp trên biển phía đông. Gió thổi mạnh hơn lúc chiều, mát và mặn. Mũi tàu cắt sóng, mỗi lần nhồi lên lại tạt mấy hạt nước lên mặt hai người.
– Em lạnh hông?
Tường Lam quay sang nhìn anh. Anh nhìn thẳng ra trước, như không biết mình vừa nói gì.
– Anh vừa gọi tôi là em.
Lộng im một lúc. Rồi anh cởi cái áo khoác gió đang mặc, choàng lên vai cô.
– Ngoài biển tui gọi dị. – Anh nói. – Lên bờ thì tính.
Cô kéo cái áo khoác sát vào người. Nó còn ấm, có mùi dầu máy, mùi mồ hôi, mùi gió. Cô không trả lời. Cô sợ nếu mở miệng, câu trả lời sẽ là một câu cô chưa được phép nói.
Họ ngồi im như vậy rất lâu. Tàu chạy qua một vùng nước có sinh vật phát quang, mỗi con sóng vỡ ra lại để lại một vệt sáng xanh lét lấp lánh rồi tắt. Cô chồm người ra nhìn, thích thú như con nít. Anh nói người trên đảo gọi đó là "biển cháy", tháng Mười hay có, cá nhiều.
– Em sợ không? – Anh hỏi. – Lúc cầm cây kim đó.
Lần này cô không sửa anh.
– Sợ. – Cô nói. – Sợ lắm. Em chưa từng làm trên người thật. Chỉ làm trên mô hình ở trường, với một lần phụ đàn anh trong phòng cấp cứu.
– Mà em làm như làm cả trăm lần.
– Tại tàu anh lái êm.
Anh cười, tiếng cười trầm, ngắn, lần đầu tiên cô nghe anh cười thành tiếng. Rồi anh quay sang. Khuôn mặt anh rất gần, gần tới mức cô thấy được cái vết sẹo trên lông mày trái, thấy được những giọt nước biển còn đọng trên hàng mi. Anh không nói gì. Cô cũng không nói gì. Cô thấy anh hơi cúi xuống. Cô thấy mình không tránh đi.
– Anh Hai! – Tiếng Vững vọng ra từ cabin. – Máy nóng! Kim nhiệt độ lên đỏ rồi anh Hai!
Lộng nhắm mắt lại một giây. Rồi anh đứng phắt dậy, chửi một câu rất khẽ mà cô nghe không rõ, đi về phía cabin. Tường Lam ngồi lại ở mũi tàu, trùm cái áo khoác của anh lên tới cằm, mặt nóng ran trong gió lạnh, cười một mình như con ngốc.
Máy nóng vì một cái ống nước làm mát bị lỏng. Lộng với Vững chui xuống hầm sửa mất gần hai tiếng, tàu thả neo trôi giữa biển dưới ánh trăng. Lúc chạy lại được thì trời đã ngả sang màu xám.
Năm giờ ba mươi sáng thứ Ba, tàu Thuận Buồm 09 cập cầu cảng Bãi Nồm.
Trên cầu cảng có đông người. Tin ghe ông Sáu gặp nạn đã chạy khắp đảo từ hồi đêm. Bà Sáu đứng đầu cầu, áo bà ba nâu, tay ôm cái nồi xôi bọc khăn như sợ nó lạnh. Mấy bà hàng xóm đứng quanh bà. Ri đứng đó, Út Nhớ đứng đó, mấy đứa lính tàu đứng đó. Tường Lam vừa nhảy xuống cầu tàu đã thấy mười mấy khuôn mặt quay về phía mình, chờ tin.
– Ông Sáu ổn rồi bà. – Cô nói lớn, nói với bà Sáu. – Ông thở được rồi. Ông nằm ở viện, bác sĩ đặt ống cho ông rồi. Bà vô thăm ông chuyến tàu sáng nay được.
Bà Sáu buông cái nồi xôi xuống, ôm chầm lấy cô, khóc nấc lên. Mấy bà hàng xóm vây lại, người vỗ vai, người cảm ơn. Có ai đó nói "Bác sĩ giỏi quá trời". Có ai đó nói "Hồi đêm bác sĩ đâm cây kim vô ngực ổng đó, thằng Vững xỉu luôn". Ri trợn mắt nhìn Vững. Vững chui tọt ra sau lưng Lộng.
Rồi có tiếng gậy gõ lên ván cầu cảng. Cộp. Cộp. Cộp.
Đám đông rẽ ra.
Ông Năm Thới đứng ở đầu cầu, chống cây gậy gỗ, mặt đỏ gay, mắt đục ngầu như chưa ngủ cả đêm. Cô Út Gấm đứng sau lưng ông nửa bước, hai tay nắm vạt áo, môi mím chặt.
Ông Thới không nhìn Tường Lam. Ông nhìn con trai.
– Lộng. – Ông nói. Giọng ông không to, nhưng cả cầu cảng im phăng phắc. – Mầy biết con nhỏ này là ai hông?
Lộng đứng sững trên mạn tàu, một chân trên tàu, một chân trên cầu.
– Ba, ba về đi ba. Có gì về nhà nói.
– Về nhà? – Ông Thới cười, tiếng cười khàn đục như tiếng máy tàu hụt dầu. Rồi ông quay sang đám đông, giơ cây gậy lên chỉ thẳng vào mặt Tường Lam. Lần này thì ông gào lên, gào khản cả giọng, gào như muốn cho cả hai ngàn mốt người trên cái đảo này cùng nghe:
– Bà con coi đi! Coi cho kỹ đi! Con gái con mụ Huyên đó! Con của con mụ bà mụ làm chết vợ tui đó! Nó ra đảo này đó! Còn thằng này… – Ông quay ngoắt sang Lộng, cây gậy run lên trong tay. – Thằng này dắt nó lên tàu nhà tui!
— Hết chương 8 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe