AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Cha và con trai trên mạn tàu

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 7/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Cha và con trai trên mạn tàu

– Mầy nắm tay con nhỏ bác sĩ ngoài bãi hả?

Lộng đang nằm ngửa dưới gầm cái tời, cờ lê trong tay, dầu nhớt nhỏ giọt lên trán. Anh không trả lời ngay. Anh vặn nốt con ốc cuối cùng, chùi tay vào cái giẻ, rồi mới chui ra.

Ông Năm Thới đứng trên cầu tàu, chống cây gậy gỗ, chân phải hơi co lên vì đau. Bảy giờ sáng mà mặt ông đã đỏ, mắt đã ngầu. Lộng không biết là rượu đêm qua chưa tan hay rượu sáng nay đã bắt đầu.

– Ai nói ba?

– Ai nói kệ người ta. Có hay hông?

– Có. – Lộng nói. – Đá trơn. Con kéo cổ qua.

Ông Thới nhổ một bãi nước bọt xuống mặt nước, sát mạn tàu.

– Kéo qua đá thì kéo. Kéo xong buông. Người ta nói mầy đứng nắm tay nó giữa bãi như hai đứa con nít mới lớn.

Lộng đứng dậy, cao hơn cha gần một cái đầu. Anh nhìn xuống ông, nhìn cái chân cà nhắc, nhìn hai bàn tay run run quanh cán gậy.

– Ba muốn nói gì thì nói đi ba.

– Tao nói mầy đó. – Ông Thới gõ cây gậy xuống ván cầu tàu, cộp một tiếng. – Đàn bà trạm, tao hổng ưa. Bác sĩ thành phố ra đây làm một năm, hết năm nó đi, nó đâu có ở với mầy. Mầy lo mà trả nợ ngân hàng. Chín trăm triệu chớ hổng phải chín trăm ngàn. Còn chuyện bà mụ…

– Cổ là bác sĩ, đâu phải bà mụ.

– Đàn bà làm ở trạm, đỡ đẻ, chích thuốc, thì cũng là một giống. – Ông Thới gằn từng tiếng. – Mầy quên má mầy chết sao rồi hả?

Lộng không quên. Anh chưa bao giờ được phép quên.

Câu chuyện đó anh nghe từ hồi còn chưa đủ lớn để hiểu nó, nghe tới mức thuộc từng chữ như thuộc kinh. Ba kể lúc say, bà nội kể lúc dỗ anh ngủ, cô Út kể lúc vá lưới, người trong xóm kể lúc ngồi đợi cân cá. Mỗi người kể một kiểu, nhưng cái lõi thì không đổi.

Đêm hai mươi tháng Mười năm chín sáu, bão. Má anh đau bụng đẻ trước ngày dự sinh gần hai tuần. Bà nội chạy đi kêu bà mụ. Bà mụ Huyên không có ở trạm xá. Người ta tìm khắp xóm Bãi Nồm không thấy. Hơn hai tiếng sau bà mụ mới về, tóc tai ướt nhẹp, áo dính máu, đi từ phía Gành Đen về. Người ta nói đêm đó bà mụ ở trong phòng ông thầy giáo trẻ ở điểm trường Gành Đen, một ông thầy người đất liền ra dạy. Bà mụ đỡ được con Nhớ ra. Rồi má anh băng huyết. Bão, không có ghe nào vô bờ được. Má anh chết lúc gà gáy.

Bà mụ Huyên rời đảo hai tháng sau, không ai tiễn. Ông thầy giáo hết năm học cũng đi. Từ đó tới giờ, ai trên đảo nhắc tới bà mụ là nhắc tới cái đêm đó.

Hồi nhỏ, có một chuyện Lộng thắc mắc mà không dám nói ra. Lần nào ba kể, câu chuyện cũng bắt đầu bằng "bà nội mầy chạy đi kêu bà mụ". Chưa bao giờ ba kể là ba đã làm gì. Năm anh mười tuổi, có một bữa ba say, kể tới đoạn bà nội chạy đi trong mưa, anh buột miệng hỏi: "Còn ba ở đâu?". Ba tát anh một cái nảy đom đóm mắt, rồi bỏ đi ra quán, tới sáng mới về. Bà nội ôm anh vào lòng, nói: "Mầy đừng hỏi ba mầy câu đó nữa nghen con". Anh không hỏi nữa. Anh nghĩ chắc ba ở nhà, ba ôm má, ba bất lực, và cái bất lực đó đau tới mức ba không kể ra được. Đàn ông trên đảo này là vậy. Không kể ra được thì uống.

– Con nhớ. – Lộng nói. – Mà cái đó đâu liên quan gì cô bác sĩ.

– Đàn bà làm ở trạm là cái giống bỏ bệnh nhân chạy theo trai. – Ông Thới nói. Giọng ông khàn hẳn đi. – Tao nói rồi đó. Mầy nghe hay hông nghe tùy mầy.

Ông quay lưng, chống gậy đi lộc cộc trên cầu tàu về phía quán Út Nhớ. Lộng đứng nhìn theo, nhìn cái dáng cà nhắc mà mười một năm trước còn đứng sừng sững trên mũi con tàu cũ, hô lính kéo câu bằng cái giọng vang qua ba chiếc ghe.

Vững thò đầu lên từ cửa hầm máy, mặt lem luốc như ông Táo.

– Ổng đi rồi hả anh Hai?

– Đi rồi.

– Ổng nói đúng một chuyện. – Vững trèo lên boong, ngồi phịch xuống. – Nợ ngân hàng. Chuyến rồi lỗ, dầu lên giá. Máy chính em mở ra coi rồi, xéc măng mòn, bạc mòn. Chạy thêm một chuyến nữa là nằm giữa biển cho cá rỉa.

Lộng ngồi xuống cạnh nó, lưng dựa vào thành cabin. Hai người tính toán một lúc. Tháng Mười biển xấu, gió đông bắc bắt đầu thổi, bão còn rình ngoài khơi. Đi bây giờ là liều. Không đi thì không có tiền trả lãi. Cuối cùng họ quyết định như nhiều tàu khác trên đảo: nằm bờ một tháng, đại tu máy, sửa tời, sơn lại hầm cá, qua mùa bão rồi tính.

– Lính tàu sao anh? – Vững hỏi.

– Cho tụi nó đi làm ghe lưới gần bờ kiếm tiền chợ. Thằng nào cần tiền gấp thì tao ứng.

– Anh lấy gì ứng?

Lộng không trả lời. Vững cũng không hỏi lại. Hai người ngồi nhìn ra vũng, nơi mấy chục chiếc tàu cá nằm san sát nhau, cờ đỏ trên cột ăng ten phần phật.

Một lúc sau, Vững hỏi, giọng nhỏ hẳn đi, nhỏ một cách khác thường với cái thân hình như cái tủ lạnh của nó:

– Anh thương chị bác sĩ thiệt hả?

Lộng cầm cái cờ lê lên, xoay xoay trong tay.

Anh thương cô ấy hả? Anh không biết. Anh chưa từng thương ai theo cái kiểu người ta hay nói. Hồi học ở Đà Nẵng, có một cô bạn học cùng lớp tiếng Anh, hai người đi uống cà phê ba lần, rồi anh về đảo, rồi thôi. Từ đó tới giờ, cuộc đời anh là con tàu, là chín thằng lính, là tiếng máy, là những đêm ngoài khơi đếm sao để biết giờ.

Nhưng anh biết mấy điều. Anh biết đêm thằng Cò bị tời cuốn, lúc cô vừa nôn vừa giơ chai nước biển lên trời, anh đã muốn ôm cô vào mà che gió cho cô. Anh biết lúc cô nói "Tay phải để ký giấy cưới", anh đã phải quay mặt đi để thằng Cò không thấy anh cười. Anh biết đêm rằm, lúc nắm tay cô kéo qua mỏm đá, anh đã đếm được năm nhịp tim trước khi buông ra, và anh đã muốn đếm tới một trăm.

– Lo sửa máy đi. – Anh nói.

Vững cười hì hì, chui lại xuống hầm.

Thứ Năm, Lộng chở một tấm lưới rách của ghe ông Tám sang Gành Đen nhờ cô Út vá. Ông Tám là chủ ghe mà anh gửi ba thằng lính qua làm tạm. Lưới rách một lỗ to bằng cái nong, ông Tám nói chỉ có tay bà Út Gấm mới vá kịp cho ghe đi đêm nay.

Từ trên dốc nhìn xuống, anh thấy chiếc xe đạp màu hồng của con Ri dựng trước chòi lưới cô Út. Con Ri hay sang Gành Đen mua nước mắm nhĩ của cô Út, mỗi tháng hai lần, lần nào cũng ngồi lại nói chuyện cả buổi. Anh chạy xe xuống tới nơi thì Ri vừa đạp xe đi, vẫy tay chào anh một cái rồi lao vút lên dốc, vừa đạp vừa hát.

Cô Út ngồi trên tấm phản kê trước hiên chòi, giữa đống lưới, cây kim đan lưới bằng tre còn trong tay. Cô ngồi im, không đan, không nhìn anh. Mắt cô nhìn thẳng ra biển, nhìn vào một chỗ nào đó rất xa.

– Cô Út. Ông Tám gởi tấm lưới.

Cô Út không trả lời. Lộng bước lại gần, đặt tấm lưới xuống phản. Lúc đó anh mới thấy mũi kim tre đã đâm vào đầu ngón tay trỏ bên trái của cô, đâm sâu, máu chảy thành một dòng nhỏ dọc theo kẽ ngón, nhỏ từng giọt xuống mặt lưới cũ. Cô không hay biết.

– Cô Út! Tay cô!

Cô giật mình, nhìn xuống bàn tay mình như nhìn tay người khác. Cô rút mũi kim ra, đưa ngón tay lên miệng mút, rồi chùi vào vạt áo.

– Con Ri nó nói gì mà cô thất thần dị? – Lộng hỏi.

– Nó nói chuyện tào lao. – Cô Út nói. Giọng cô bình thường, quá bình thường. – Chuyện con nhỏ bác sĩ.

– Chuyện gì?

Cô Út nhìn anh. Lâu lắm. Lộng đã quen với cô Út từ khi biết nhìn, quen như quen cái mạn tàu. Cô Út là người dạy anh bơi, dạy anh thắt nút lưới, dạy anh đếm con nước. Hồi anh bị ba đánh, anh chạy sang Gành Đen ngủ ở chòi cô Út. Cô Út lúc nào cũng có cái miệng sắc như dao lam, lúc nào cũng cười khẩy, lúc nào cũng có một câu chửi khéo cho bất cứ ai. Anh chưa bao giờ thấy cô Út nhìn anh như vầy. Như người đang nhìn một chiếc ghe sắp ra khơi mà trời thì đã nổi giông.

– Mầy thương con nhỏ đó hả? – Cô hỏi.

Lộng không trả lời. Mới mấy hôm mà đã là lần thứ hai có người hỏi anh câu đó.

– Đừng. – Cô Út nói.

Chỉ một chữ. Không giải thích. Cô cầm tấm lưới rách của ông Tám lên, trải ra trên đùi, bắt đầu đan, mười ngón tay thoăn thoắt như không có chuyện gì. Ngón trỏ bên trái vẫn còn rỉ máu, mỗi mũi đan lại để lại một vệt đỏ nhạt trên sợi cước.

– Năm giờ chiều qua lấy. – Cô nói, không ngẩng lên.

Lộng đứng đó thêm một lúc, rồi quay ra xe. Lúc nổ máy, anh ngoái lại nhìn. Trên bậu cửa sổ của chòi lưới, cái hũ thủy tinh biển của cô Út vẫn ở chỗ cũ, sáng lên màu xanh lục trong nắng chiều. Anh bỗng nhớ tới cổ tay của Tường Lam đêm thằng Cò bị tời cuốn, tới ba hạt thủy tinh xanh ngọc đục mờ như sương. Tới cái nút mắt lưới đôi mà cả cái đảo này chỉ có đàn bà Gành Đen mới thắt.

Anh lắc đầu, vặn ga lên dốc.

Tối thứ Sáu, Lộng về nhà sớm. Nhà anh là căn nhà ngói cũ ba gian ở cuối xóm Bãi Nồm, sau nhà là cái bếp lợp tôn, cạnh bếp là cây trứng cá già mà hồi nhỏ anh với con Nhớ hay trèo lên hái trái. Anh dựng xe ngoài cổng, đi vòng ra sau định rửa tay ở lu nước.

Từ trong bếp vọng ra tiếng nói. Tiếng cô Út, thấp, gấp, như đang nói với ai ở sát tai. Rồi tiếng ba, to và đục.

– Mầy chắc hông?

– Tui chắc. Con Ri nó thấy tận mắt. Cuốn sách cũ, trang đầu đề tên. Kẹp trong đó có tấm hình trạm xá mình hồi xưa.

– Tên gì?

Cô Út nói một cái tên. Lộng đứng ngoài, cách cái vách tôn một sải tay, không nghe ra được. Gió chiều thổi qua cây trứng cá làm lá kêu xào xạc.

Rồi có tiếng choang. Tiếng một cái chén sành vỡ tan trên nền xi măng.

– Nó dám! – Ba anh gầm lên. – Nó dám ra cái đảo này!

Lộng đẩy cửa bếp bước vào.

Ba anh đứng giữa bếp, tay chống lên mép bàn, mặt đỏ tía, ngực phập phồng. Dưới chân ông, cái chén vỡ làm năm làm bảy, nước trà loang ra thành một vũng sẫm. Cô Út đứng sát vách, hai tay nắm chặt vạt áo. Cả hai người quay lại nhìn anh cùng một lúc, và cả hai cùng im bặt, như hai đứa con nít bị bắt quả tang ăn vụng.

– Chuyện gì dị ba? – Lộng hỏi. – Ai dám?

Ba anh không trả lời. Ông chụp lấy cây gậy dựa ở góc bếp, đi cà nhắc qua mặt anh, ra cửa, đi thẳng về phía ánh đèn vàng của quán Út Nhớ. Cô Út cúi xuống lượm mấy mảnh chén vỡ, lượm bằng tay không, như hôm ở nhà con Nhớ.

– Cô Út.

– Mầy đi ngủ đi. – Cô Út nói, không ngẩng lên. – Chuyện người lớn.

– Con ba mươi mốt tuổi rồi cô Út.

Cô Út đứng thẳng dậy, mấy mảnh sành nằm trong lòng bàn tay. Cô nhìn anh, và lần thứ hai trong hai ngày, anh thấy trong mắt cô Út cái cơn giông đó.

– Ba mươi mốt tuổi thì càng phải biết. – Cô nói. – Có những chuyện, biết sớm một ngày là khổ thêm một ngày.

Cô đi ra. Từ trong buồng trên, bà nội ho mấy tiếng khan, rồi gọi vọng xuống, giọng run run:

– Lộng hả con? Ba mầy với cô Út mầy cãi chuyện gì dị?

Lộng đứng giữa cái bếp tối, nhìn vũng trà đổ loang trên nền nhà, không biết trả lời bà thế nào.

— Hết chương 7 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →