Chương 16: Lời đồn đi sau cơn bão
– Anh Hai, ngoài chợ người ta nói anh với chị bác sĩ ở với nhau nguyên đêm bão bên Gành Đen.
Vững nói câu đó lúc tàu Thuận Buồm 09 vừa thả neo trong vũng Bãi Nồm, chiều thứ Bảy, hai ngày sau bão. Nó nói mà không nhìn Lộng, tay vẫn quấn sợi dây neo quanh cọc.
Lộng đứng trên mũi tàu, nhìn vào bờ. Bãi Nồm như một cái sân vừa bị ai đó lấy chổi quét ngược. Mái tôn văng trên bãi cát, phi lao đổ nằm ngổn ngang, mấy chiếc ghe thúng úp trên đường bê tông, xa tít chỗ nước ròng.
– Ở với nhau là sao?
– Thì… – Vững gãi đầu. – Người ta nói hai người đi qua dốc sạt có hai đứa, ở bên đó tới sáng. Rồi có người thấy hai người ngồi ôm nhau dưới nền nhà. Rồi người ta nói… – Vững ngập ngừng. – Người ta nói "y như má nó hồi xưa ở với thầy giáo".
Lộng quay lại nhìn nó.
– Ai nói?
– Em hổng biết. Em mới về. Thằng Lụi nghe ở quán, thằng Lụi kể em.
Lộng nhảy xuống cầu cảng, đi thẳng vào xóm.
Anh hiểu cái đảo này. Một lời đồn không có cha. Nó mọc ra như rêu trên đá sau mưa, không ai trồng, không ai tưới, tự nó lan ra. Đêm bão, trong căn nhà tốc mái của bà Năm Thủy, có bà Năm Thủy, có chị Hà My, có đứa bé, có anh, có cô. Sáng ra, hàng xóm sang phụ, có người thấy hai người ngồi bệt dưới nền nhà, đầu cô gục vào vai anh. Từ cái hình ảnh đó tới câu "ở với nhau tới sáng" chỉ cần ba cái miệng. Từ câu đó tới câu "y như má nó" chỉ cần thêm một cái miệng nữa.
Anh không biết ai là cái miệng thứ tư. Anh biết là anh không tìm ra được. Mà có tìm ra, thì đã sao.
Suốt mấy tuần sau bão, cả đảo dọn dẹp.
Lộng cùng lính tàu lợp lại mái nhà ngói, thay mấy chục viên ngói vỡ, chằng thêm dây thép. Anh đi phụ nhà ông Tư Rớt, nhà bà Chín, nhà chị Hến, mỗi nhà một buổi. Hàng cứu trợ về theo tàu khách: gạo, mì gói, tôn, nước đóng chai. Ông Nhựt, chủ tịch xã, đứng ở sân Ủy ban phát hàng, tay cầm danh sách, mồ hôi nhễ nhại, cãi nhau với ba bà vì danh sách ghi sai số nhân khẩu.
Lần nào đi ngang trạm y tế, anh cũng thấy cô.
Có lúc cô đứng ở hiên khâu tay cho người ta. Có lúc cô đi cùng Ri, xách cái thùng nhựa, đi từ nhà này sang nhà khác. Anh hỏi Ri, Ri nói chị đi đổ thuốc khử trùng vào giếng, dặn người ta nấu nước sôi rồi mới uống, sau bão nước giếng bẩn, dễ đau bụng tiêu chảy. Có lúc anh thấy cô ngồi một mình trên bậc tam cấp, dưới cái bóng đèn đỏ của bà Tư Hoa, tay cầm ổ bánh mì ăn dở, mắt nhìn ra biển, mặt hốc hác.
Người ta tới trạm nhiều hơn. Anh thấy. Bà Chín tới. Chị Hến tới. Bà Tư Hoa tới, lần này không phải đứng ngoài hàng rào. Nhưng cũng có những người vẫn đi ngang mà không nhìn vào. Và anh biết, khi anh đi ngang qua quán nước, sẽ có những câu nói ngưng lại giữa chừng, những ánh mắt liếc theo lưng anh.
Thứ Hai đầu tiên sau bão, ba anh về.
Ông Thới xuống tàu khách chuyến chiều, gầy rộc đi, áo sơ mi rộng thùng thình, chống cây gậy mới mà con Nhớ mua ở Quy Nhơn. Bác sĩ dặn bỏ rượu, bỏ thuốc lá, uống thuốc đều, đi tái khám mỗi tháng. Ông về nhà, nằm nghỉ một buổi. Tối, ông chống gậy ra quán Út Nhớ. Út Nhớ không bán rượu cho ông. Ông sang quán bên cạnh.
Lộng không biết ở quán đó người ta đã nói gì với ba. Anh chỉ biết lúc anh về tới nhà, chín giờ tối, ba anh đang đứng chắn ngay giữa cửa.
Ông không cầm gậy. Ông vịn hai tay vào hai bên khung cửa, cái thân gầy rộc đứng chắn như một cái chốt cửa cũ. Ánh đèn trong nhà hắt ra sau lưng ông, mặt ông chìm trong bóng tối.
– Mầy đứng đó. – Ông nói.
Lộng dừng lại ở bậc thềm.
– Ba mới về. Ba vô nằm nghỉ đi ba.
– Tao hỏi mầy. – Ông Thới nói, giọng không lớn, nhưng từng chữ như đinh đóng vào ván. – Đêm bão mầy đi đâu?
– Con đi với bác sĩ qua Gành Đen đỡ đẻ cho con Hà My. Rồi xuống hốc đá kéo cô Út lên. Ba biết rồi mà.
– Tao biết. – Ông Thới nói. – Cả đảo biết. Cả đảo nói mầy ở với con nhỏ đó tới sáng. Cả đảo nói nó y như má nó.
– Người ta nói tầm bậy.
– Tầm bậy hay hổng tầm bậy, người ta nói rồi. – Ông siết tay vào khung cửa. – Tao nói một lần. Mầy bước qua cái cửa này thì bỏ con nhỏ đó. Mầy hổng bỏ thì đừng bước vô.
Từ trong buồng, bà nội gọi ra, giọng run run:
– Thới… mầy nói gì dị Thới…
Ông Thới không quay đầu. Lộng đứng ở bậc thềm, nhìn cha. Anh nhìn cái thân hình gầy gò mới qua cơn nhồi máu, nhìn hai bàn tay run run trên khung cửa, nhìn đôi mắt đỏ ngầu. Rồi anh nhớ lại đêm giỗ má, trên cái ghế bố ngoài hiên này, ba nói "tao về tới nhà thì trời vừa hửng".
Câu hỏi đó lại nằm trên đầu lưỡi anh. Từ đâu về, ba?
Nhưng anh nhìn ba, và anh nghĩ tới cái dải giấy điện tim cô cầm dưới ánh đèn pin, tới cái mặt xám ngoét của ba trên giường hồi sức. Bác sĩ dặn không được để ông xúc động mạnh. Anh nuốt câu hỏi xuống.
– Con hổng bỏ. – Anh nói.
Ông Thới đứng im. Rồi ông buông tay khỏi khung cửa, lùi vào trong, đóng sập cánh cửa gỗ lại. Tiếng then cài vang lên khô khốc.
Đêm đó Lộng xuống ngủ dưới tàu.
Anh trải cái chiếu trên sàn cabin, lấy cái áo mưa làm gối. Tàu nằm trong vũng, đong đưa nhè nhẹ theo con nước. Anh đã ngủ trên con tàu này hàng trăm đêm, ngoài khơi xa, giữa sóng gió. Đêm nay nằm ngay trong vũng nhà, cách nhà mình ba trăm mét, anh không ngủ được.
Sáng hôm sau, Út Nhớ chèo cái thúng ra, mang theo một cà mèn cơm, một bịch cá kho, một bình trà.
– Bà nội gởi. – Nhớ nói, leo lên tàu, cái bụng tròn vướng víu. – Bà nội khóc cả đêm. Ba hổng nói câu nào.
– Mầy đừng chèo thúng ra nữa. Bụng mầy dị mà.
– Anh Tâm chèo. Em ngồi. – Nhớ ngồi xuống cạnh anh, nhìn ra bờ. – Anh Hai. Em nói anh nghe cái này. Em lén lên trạm cho chị Hai khám thai. Từ hồi tháng trước.
Lộng quay sang nhìn em gái.
– Em muốn chỉ đỡ đẻ cho em. – Nhớ nói tiếp. – Ba mà biết thì ba giết em. Mà em hổng sợ. Em chỉ sợ anh hổng chịu.
Lộng nhìn em rất lâu. Rồi anh đưa tay xoa đầu nó, như hồi hai anh em còn nhỏ, như hồi nó khóc vì bị bạn trêu là đứa "đẻ ra là giết má".
– Anh chịu. – Anh nói.
Thứ Ba tuần sau, cô Út về. Ca mổ ở Quy Nhơn đã bắt vít cái xương cẳng chân, giờ cô bó bột tới gối, chống nạng. Chòi lưới bên Gành Đen không còn, cô về ở nhà ba anh, trong cái buồng nhỏ cạnh buồng bà nội. Lộng ra tận cầu cảng, bế cô Út từ tàu khách lên bờ như bế một đứa con nít.
Cô Út để yên cho anh bế. Tới đầu cầu, lúc anh đặt cô xuống, cô níu vai anh, nhìn ra vũng, nhìn con tàu Thuận Buồm nằm đó.
– Mầy ngủ dưới đó hả?
– Dạ.
Cô Út im một lúc. Rồi cô nói, giọng nhỏ, không sắc như dao lam nữa:
– Con nhỏ đó giữ được cái chân tui. Bác sĩ trong bờ nói nẹp kỹ, nên mạch chân còn. Tui biết. – Cô chống nạng, đứng cho vững. – Mà mầy vẫn đừng.
Cô đi về phía xóm, từng bước nạng gõ lên mặt đường bê tông. Lộng đứng nhìn theo, không hiểu được vì sao người ta có thể vừa biết ơn một người vừa sợ người đó tới vậy.
Tối thứ Năm, hai hôm sau, cô ra tàu.
Cô chèo cái thúng của Út Nhớ, chèo vụng về, xoay vòng vòng mấy lần, mất mười lăm phút mới ra tới mạn tàu. Lộng đứng trên boong nhìn mà muốn bật cười, rồi nhảy xuống nước, nắm vành thúng kéo vào.
– Em mang thuốc cho tay anh. – Cô nói, giơ cái túi nhỏ lên. – Mấy chỗ anh bị tôn cứa lúc lợp nhà ông Tư, Ri nói anh không chịu lên trạm thay băng.
– Có sao đâu.
– Có. – Cô nói. – Đưa tay đây.
Anh ngồi xuống sàn boong. Cô ngồi đối diện, mở băng, rửa từng vết xước trên mu bàn tay, trên các đốt ngón tay anh. Có hai vết đã sưng đỏ, rỉ dịch. Cô rửa kỹ, bôi thuốc, băng lại. Đèn trên cột ăng ten hắt xuống ánh sáng vàng nhạt. Ngoài vũng, mấy chiếc tàu khác cũng đã về, đèn le lói trên mặt nước đen.
– Em nghe người ta nói rồi hả? – Anh hỏi.
– Nghe. – Cô nói, không ngẩng lên. – Ri kể. Bà Chín kể. Bà Tư Hoa kể, rồi bà chửi người kể. – Cô cười, cái cười rất mỏng. – Em nghe từ hồi em mới ra đảo. Lúc đó người ta nói em ói. Giờ người ta nói em giống má em. Em nghĩ cái sau cũng không tệ.
Lộng im lặng. Cô cột nút băng cuối cùng, nhưng không buông tay anh ra.
– Anh ngủ dưới tàu vì em. – Cô nói.
– Tui ngủ dưới tàu vì tui chọn.
– Anh gọi em là "tui" với "em" lẫn lộn hoài.
Anh nhìn cô. Rồi anh nhìn ra mặt nước đen bao quanh con tàu.
– Tàu đang nằm dưới nước. – Anh nói. – Tính là ngoài biển.
Cô bật cười, cười thật, tiếng cười trong vắt vang ra mặt vũng. Rồi cô thôi cười. Cô vẫn nắm bàn tay vừa băng của anh. Anh lật bàn tay lại, để lòng bàn tay mình úp vào lòng bàn tay cô. Họ ngồi như vậy, không nói gì, nghe tiếng sóng vỗ vào mạn tàu.
Điện thoại cô rung lên trong túi áo.
Cô nhìn màn hình. Mặt cô thay đổi. Cô đứng dậy, đi ra phía mũi tàu, đứng quay lưng lại anh. Gió đêm thổi những câu nói của cô bay ngược về phía anh, đứt quãng, lạc giọng. Lần đầu tiên anh nghe cô nói hoàn toàn bằng giọng Huế, cái giọng Huế mà cô vẫn cố giấu đi khi nói với người đảo.
– Ba… ba nghe ai nói rứa?… Không mô ba, con không răng hết… Con biết… con biết ba lo… Ba đừng ra… Ba ơi, ngoài ni sóng lắm, ba say sóng… Ba…
Cô im lặng rất lâu, nghe đầu dây bên kia nói.
– Dạ. – Cuối cùng cô nói, giọng nhỏ hẳn đi. – Dạ, con biết rồi. Thứ Bảy tuần sau. Dạ.
Cô cúp máy. Cô đứng đó, quay lưng lại anh, một tay vịn vào cột ăng ten, một tay cầm điện thoại buông thõng.
– Ba em hả? – Lộng hỏi.
Cô quay lại. Mắt cô đỏ hoe dưới ánh đèn vàng.
– Dạ. – Cô nói. – Ba gọi chị Hạnh ở viện hỏi thăm con, chị Hạnh kể hết chuyện cơn bão, chuyện người ta nói. Ba nói thứ Bảy tuần sau ba ra đảo.
Cô ngừng lại, như cân nhắc có nên nói tiếp không.
– Ba nói ba muốn gặp người tên Thới. – Cô nói. – Ba nói má khóc vì cái đảo này hai mươi bảy năm, ba muốn coi mặt người đó một lần.
— Hết chương 16 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe