AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Hốc đá dưới chòi lưới

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 15/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 15: Hốc đá dưới chòi lưới

– Cô Út! Cô Út ơi!

Tiếng Lộng khản đặc, bị gió xé ra thành từng mảnh. Anh leo lên đống gạch vỡ, lật từng tấm ngói, từng bó lưới, hai bàn tay trần cào vào gạch đá tới rướm máu. Tường Lam đứng ở mép đống đổ nát, tim đập thình thịch trong lồng ngực.

Người trong xóm bắt đầu kéo tới. Mấy người đàn ông áo quần ướt sũng, mấy bà đầu trùm khăn. Ai cũng hỏi một câu, và không ai trả lời được. Cô Út Gấm có qua nhà ai ngủ đêm qua không? Không. Có ai thấy bà đi đâu không? Không. Có người nói tối qua chín giờ còn thấy đèn trong chòi. Có người nói mười giờ thấy mất đèn, tưởng bà ngủ.

– Sóng đánh ra tới đây hồi khuya. – Một ông già chỉ lên mỏm đá. – Sóng cao hơn nóc chòi. Tui ở nhà trên kia mà còn nghe ầm ầm như đạn pháo.

Lộng đứng giữa đống gạch, nhìn ra biển. Biển xám đục, sóng vẫn còn cao, đập lên những tảng đá đen dưới chân mỏm, tung bọt trắng xóa. Tường Lam thấy vai anh run lên.

Rồi anh quay ngoắt lại, nhìn xuống phía dưới mỏm đá, phía mép nước.

Mỏm đá nơi dựng chòi lưới không dựng đứng như vách. Nó đổ xuống biển thành từng bậc, từng tảng, những tảng đá bazan đen to bằng cái bàn, cái giường, chồng lên nhau, giữa chúng là những khe, những hốc tối om. Sóng đánh vào chân các tảng dưới cùng, nhưng mấy tảng ở giữa thì chỉ ướt bọt.

Lộng leo xuống. Không dây, không đèn. Anh bám vào các mép đá, chân dò từng chỗ, tụt xuống từng bậc như một con còng. Tường Lam chạy tới mép, nhìn theo.

– Anh! Cẩn thận!

Anh không trả lời. Anh xuống tới tảng đá thứ ba, cúi người nhìn vào một cái hốc nằm khuất giữa hai tảng lớn. Anh đứng im một giây.

Rồi anh hét lên, một tiếng không thành chữ.

– Có! Cô Út ở đây! Còn sống!

Mấy người đàn ông lao xuống theo. Tường Lam giật cuộn dây thừng còn quấn trên vai Lộng từ đêm qua mà anh đã quăng xuống đất lúc lục tìm. Cô cột dây quanh eo mình, đưa đầu kia cho một người đàn ông đứng trên mỏm.

– Chú giữ giùm con. Con xuống.

– Bác sĩ…

– Giữ chặt.

Cô tụt xuống. Đá trơn, ướt, sắc. Đầu gối cô va vào một mép đá, rách quần, rớm máu. Cô không dừng. Cô xuống tới chỗ Lộng.

Cái hốc nằm giữa hai tảng đá, sâu chừng hai mét, cao hơn mặt nước lúc này khoảng hai sải tay. Trong đó, bà Gấm nằm co quắp, nửa người kẹt giữa hai mặt đá, quần áo rách tơi tả, tóc xõa bết vào mặt. Hai tay bà vẫn còn bấu vào một mấu đá, những ngón tay trắng bệch, cứng lại như móng chim. Cẳng chân phải của bà gập lại ở một góc không thể nào là góc của một cái chân bình thường.

Tường Lam chui vào. Cô sờ cổ bà. Mạch nhanh. Da lạnh ngắt, lạnh như thịt cá ướp đá. Bà đang run, run từng cơn, răng va vào nhau lập cập.

– Cô Út. Cô Út nghe con không?

Mắt bà Gấm hé mở. Đôi mắt lờ đờ, không nhìn vào đâu.

– Lạnh… – Bà thều thào.

– Dạ, con biết. Con đưa cô lên.

Cô kiểm tra nhanh. Đầu không có vết thương lớn. Bụng mềm. Hai tay cử động được. Cẳng chân phải gãy, gãy kín, xương không lòi ra ngoài, nhưng lệch, sưng to, tím bầm. Bàn chân phải còn ấm, còn mạch ở mu bàn chân. Cô thở ra. Còn mạch là còn giữ được chân.

– Anh. – Cô nói với Lộng, đang khom người ở miệng hốc. – Em cần hai miếng ván dài cỡ cái chân. Vải, dây, gì cũng được, để cột. Một cái tấm phản hay cánh cửa để khiêng. Và chăn. Nhiều chăn.

Lộng quay lên, hét xuống những người đang đứng trên mỏm. Người ta chạy đi. Năm phút sau, hai thanh gỗ từ cái giàn phơi cá gãy được chuyền xuống, rồi mấy sợi dây lưới, rồi một tấm cửa gỗ, rồi một đống chăn mền ướt nửa khô nửa.

Tường Lam nẹp chân cho bà Gấm ngay trong hốc đá. Cô kéo nhẹ cẳng chân về gần trục, nhẹ nhất có thể, bà Gấm rú lên một tiếng rồi lả đi. Cô đặt hai thanh gỗ hai bên, lót vải, cột bằng dây lưới, cột trên chỗ gãy, dưới chỗ gãy, cột luôn qua đầu gối và cổ chân. Rồi cô cởi luôn cái áo khoác của mình, quấn quanh người bà, quấn thêm hai lớp chăn.

Lúc cô cúi sát xuống mặt bà để quấn chăn quanh cổ, tay áo bên trái cô tuột lên. Chiếc vòng cước xanh lủng lẳng ngay trước mắt bà Gấm, ba hạt thủy tinh đục mờ đung đưa.

Đôi mắt lờ đờ của bà Gấm bỗng mở to.

Bà nhìn chiếc vòng. Rồi bà nhìn lên mặt Tường Lam. Rồi bà nhìn lại chiếc vòng. Môi bà mấp máy.

– Chị Huyên…

Tường Lam đứng sững, hai tay vẫn cầm mép chăn.

– Chị Huyên tới rồi. – Bà Gấm nói, giọng nhỏ như hơi thở, đôi mắt đờ đẫn vì lạnh, vì cả một đêm bám vào đá. – Chị tới rồi… em biết chị sẽ tới mà…

Bàn tay lạnh ngắt của bà quờ quạng, nắm lấy cái vòng cước trên cổ tay cô.

– Em xin lỗi chị… – Bà Gấm thì thào. Nước mắt chảy ra khóe mắt, chảy xuống má, hòa lẫn với nước biển còn đọng trên da. – Em xin lỗi… em xin lỗi chị… em sợ quá… chị Huyên ơi em sợ quá…

– Cô Út…

– Đừng nói với ai… – Bà Gấm nắm chặt hơn. – Đừng nói…

Rồi mắt bà khép lại. Bàn tay bà lỏng ra, rơi xuống tấm chăn.

Tường Lam ngồi bất động trong hốc đá. Phía trên, Lộng đang hướng dẫn mấy người đàn ông cột tấm cửa gỗ vào dây thừng. Tiếng anh gọi nhau, tiếng gió, tiếng sóng đập phía dưới. Không ai nghe thấy gì. Chỉ có cô.

Cô nhìn xuống cổ tay mình. Ba hạt thủy tinh xanh ngọc. Cái nút mắt lưới đôi. Cô nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của người đàn bà nằm trong chăn. Cái cằm nhọn. Cái cằm của cô gái đội nón lá trong tấm ảnh năm 1995, cô gái cầm búi cước xanh.

Gấm ơi, cột chân nó cho chặt.

– Bác sĩ! – Lộng gọi từ miệng hốc. – Ván xong rồi! Đưa cô Út lên được chưa?

Tường Lam ngẩng lên. Cô kéo tay áo xuống, che chiếc vòng.

– Được rồi. – Cô nói. – Nhẹ tay. Giữ cho chân cô thẳng.

Họ đưa bà Gấm lên trong bốn mươi phút. Sáu người đàn ông, hai sợi dây, một tấm cửa gỗ, từng bậc đá một. Lúc bà lên tới mỏm thì trời đã sáng hẳn, mưa đã tạnh, và cả xóm Gành Đen đứng chờ.

Tới chín giờ, dân quân xã và lính Đồn Biên phòng dọn được một lối đi bộ qua đoạn sạt ở dốc Cổ Ngựa. Mười giờ, bà Gấm được khiêng qua dốc trên tấm cửa gỗ, chị Hà My và đứa bé được khiêng trên một cái võng buộc vào đòn tre. Tường Lam đi bên cạnh, lúc bên tấm cửa, lúc bên cái võng. Lộng đi đầu, cầm dây.

Ở Bãi Nồm, trạm y tế đông như ngày hội.

Mười bảy người già trú bão đêm qua vẫn chưa về, ngồi kín hiên. Tin đã chạy về trước họ. Bác sĩ đi bộ qua dốc sạt trong bão, đỡ đẻ cho con Hà My. Thằng nhỏ đẻ ra hổng thở mà bác sĩ làm cho nó khóc, con Hà My băng huyết mà bác sĩ giữ được tới gà gáy, rồi sáng ra lại xuống hốc đá cứu bà Út Gấm. Tin chạy qua mười miệng thì thành mười kiểu, nhưng không kiểu nào thiếu mấy chữ "bác sĩ" với "gà gáy".

Khi tấm cửa gỗ chở bà Gấm đi vào sân trạm, bà Chín đang ngồi trên băng ghế ngoài hiên. Bà cụ chống tay đứng dậy. Rồi bà Bảy Giỏi, ngồi trên giường số một trong phòng lưu, nghe tiếng ồn, cũng đòi Ri dìu ra cửa. Bà nhìn thấy con gái nằm trên tấm cửa, chân nẹp hai thanh gỗ, mặt trắng bệch, và bà lảo đảo.

– Gấm… Gấm ơi…

– Bà ngồi xuống bà. – Tường Lam đỡ lấy bà. – Cô Út gãy chân, lạnh, nhưng còn tỉnh, còn mạch chân. Con lo cho cô. Bà ngồi xuống.

Bà Bảy ngồi xuống. Bà nắm lấy tay Tường Lam, không buông.

Cả buổi trưa, Tường Lam không ngồi xuống được một lần. Ủ ấm cho bà Gấm, truyền dịch, cho thuốc giảm đau, theo dõi mạch mu bàn chân mỗi mười lăm phút. Gọi về bệnh viện tỉnh, hẹn chuyển bà Gấm vào ngay khi biển êm. Khám lại cho chị Hà My, cho đứa bé, cho chị Lan xóm Giếng tới vì đau bụng mà hóa ra chỉ là gò giả. Khâu tay cho hai người đàn ông bị tôn cứa lúc dọn nhà. Băng chân cho một thằng nhỏ giẫm phải đinh.

Gần ba giờ chiều, cô mới ra hiên để thở.

Có một cái thang tre dựng dưới mái hiên. Trên thang, một người đàn ông đang vặn một bóng đèn đỏ vào cái đui trống trên khung cửa. Bóng đèn cũ của cô đã vỡ trong bão đêm qua, một cành bàng gãy quật trúng. Cô đã không có thời gian để để ý.

Dưới chân thang, một người đàn bà đứng chỉ trỏ, giọng chát chúa:

– Vặn chặt vô! Vặn lỏng gió nó rớt nữa!

Bà Tư Hoa. Cái bà ngoài chợ đã nói cô "hổng biết nghề". Cái bà đã nói "cảm ơn" bằng hai chữ cụt lủn ở đám tang cá Ông.

Người đàn ông trên thang vặn xong, leo xuống. Bà Tư Hoa quay lại, thấy Tường Lam đứng đó. Bà khựng lại một giây. Rồi bà hất hàm về phía cái bóng đèn.

– Bóng đèn bàn thờ nhà tui. – Bà nói. – Bàn thờ còn một bóng, đủ rồi. Ông Táo ổng chịu.

Bà quay đi, không đợi cô trả lời, kéo ông chồng với cái thang tre đi ra cổng. Tới cổng, bà nói vọng lại, không quay đầu:

– Má tui nói cảm ơn bác sĩ. Bữa hổm tui nói chưa đủ.

Tường Lam đứng dưới cái bóng đèn mới. Trời còn sáng, chưa ai bật đèn. Nhưng cô nhìn nó rất lâu.

Tối hôm đó, cô gọi được ca nô Đồn hẹn bảy giờ sáng mai chở bà Gấm vào bờ, dỗ bà Bảy ăn được nửa chén cháo. Cô nghe Lộng gọi điện báo tin cho ông Thới đang nằm viện ở Quy Nhơn và nghe ông Thới chửi qua điện thoại to tới mức cả phòng lưu nghe rõ. Rồi cô vào thay chai dịch cho bà Gấm.

Bà Gấm nằm trên giường số hai, giường cạnh mẹ mình. Bà Bảy đã ngủ, ngáy khò khè dưới ống thở oxy. Phòng tối, chỉ có ánh đèn ngủ xanh mờ ở góc.

Tường Lam treo chai dịch mới lên, chỉnh tốc độ nhỏ giọt. Cô cúi xuống kiểm tra mạch mu bàn chân. Còn. Ấm.

Một bàn tay nắm lấy cổ tay cô.

Bàn tay đã ấm lên. Nắm chặt, không run, không quờ quạng như buổi sáng. Tường Lam ngẩng lên. Bà Gấm đang mở mắt nhìn cô. Đôi mắt tỉnh táo, rất tỉnh táo, sáng lên trong bóng tối như hai đốm lửa trong lò.

– Hồi sáng… – Bà Gấm nói. Giọng bà khàn và rất nhỏ, nhỏ đủ để bà Bảy nằm ngay giường bên không nghe thấy. – Hồi sáng tui có nói gì hông?

Tường Lam im lặng.

Bàn tay bà Gấm siết chặt hơn. Siết đúng chỗ chiếc vòng cước, đau tới mức cô cảm thấy từng hạt thủy tinh in vào da.

– Cô nghe gì, – bà Gấm nói, từng chữ một, – thì quên đi.

— Hết chương 15 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →