Chương 18: Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước
– Ngồi xuống. Tui già rồi. Tui nói một lần, hổng nói lại.
Bà Bảy Giỏi ngồi trên cái ghế mây đặt sát bàn thờ, lưng thẳng hơn mọi ngày, như đã gom hết sức lực của mấy tuần nay để dồn vào buổi sáng này. Bà mặc cái áo bà ba lụa màu tím than, cái áo bà chỉ mặc ngày Tết và ngày giỗ, tóc búi gọn, cài một cây trâm bạc. Trên bàn thờ, nhang đã thắp, khói bay lên thẳng tắp trong căn nhà kín gió.
Ông Thuần và Tường Lam ngồi xuống hai cái ghế đẩu Út Nhớ đã kê sẵn trước mặt bà. Út Nhớ đứng ở cửa buồng, hai tay ôm bụng. Ngoài sân, nắng mười giờ trải vàng trên nền gạch, con gà mái dẫn bầy con đi ngang qua cửa, kêu tục tục.
Bà Bảy nhìn ông Thuần lâu lắm, đôi mắt mờ đục nheo lại.
– Ông là chồng con Huyên.
– Dạ, thưa bác.
– Hồi hôm qua ông nói với thằng Thới mấy câu ở cầu cảng. Con Nhớ kể tui nghe. – Bà gật gù. – Ông nói đúng. Nó hổng có hỏi. Nó chỉ nghe người ta nói. Mà nó nghe, là vì nó muốn nghe.
Bà quay sang Tường Lam.
– Còn con. Bữa đầu con đo huyết áp cho tui, tui nắm tay con, tui nói con giống một người. Con nhớ hông?
– Dạ nhớ.
– Tui biết con là con của con Huyên từ bữa đó. – Bà nói. – Con giống má con như đúc. Cái trán. Cái cằm. Cái cách con cúi xuống nhìn cái đồng hồ đo máu. Tui mắt mờ mà tui thấy. Tui im. Tui im tới bữa thằng Thới la ở cầu cảng.
Bà thở ra một hơi, hơi thở khò khè trong lồng ngực suy yếu.
– Giờ tui hổng im nữa.
Chiều hai mươi tháng Mười năm chín sáu, đài phát thanh xã đọc tin bão từ sáng. Tới trưa, Đồn Biên phòng với xã cho người đi từng nhà, cấm tất cả ghe tàu rời bến, ai đang ở đâu thì ở yên đó.
Hồi đó Thới ba mươi tuổi. Tháng Ba năm đó, Thới mới gom hết vốn liếng, vay thêm mấy cây vàng của người ta, mua lại một chiếc tàu cũ để đi câu xa. Cả nhà trông vào chiếc tàu đó.
– Vũng Bãi Nồm hồi đó chưa có kè. – Bà Bảy nói. – Bão hướng đông bắc vô là sóng đánh thẳng vô vũng. Thằng Thới sợ. Nó sợ tàu đứt neo, đập vô ghềnh, mất trắng. Nó nói nó chạy tàu vòng qua vũng Hang Rái bên kia đảo, chỗ đó kín gió, một tiếng là tới, neo xong nó đi bộ băng đồi về.
– Mà cấm biển rồi, thưa bác. – Ông Thuần nói khẽ.
– Cấm rồi. – Bà Bảy gật. – Nó biết cấm. Nó lén đi. Bốn giờ rưỡi chiều, nó xuống tàu.
Bà ngừng lại. Hai bàn tay nhăn nheo của bà đan vào nhau trên đầu gối, siết chặt.
– Con Mến níu tay nó ở cửa. Tui đứng đây, tui nghe. Con Mến nói: "Anh đừng đi. Em thấy trong người khác lắm, anh ơi". Thằng Thới nói: "Còn mười mấy ngày mới tới ngày đẻ mà. Anh đi một tiếng là về. Mất tàu là mất hết". Nó gỡ tay con Mến ra. Nó đi.
Tường Lam không dám thở. Ở cửa buồng, Út Nhớ đã quỳ sụp xuống nền nhà từ lúc nào.
– Tới vũng Hang Rái thì bão lên. Gió lên nhanh lắm, nhanh hơn đài nói. Nó neo được tàu, mà nó hổng về được. Đường băng đồi cây đổ, đá lăn. Nó ở dưới tàu suốt đêm, ôm sợi dây neo cho tàu khỏi đứt. Nó hổng biết gì hết.
Mười giờ tối, con Mến đau bụng. Bà Bảy chạy đi kêu bà mụ. Chỉ có thằng Cang ở trạm xá. Những gì xảy ra sau đó, chú Cang đã kể, và bà Bảy kể lại gần như y hệt. Cang chạy đi tìm, bà mụ Huyên về lúc một giờ, ướt, áo dính máu, con Nhớ ra lúc một giờ bốn mươi, rồi máu.
– Suốt đêm đó, – bà Bảy nói, – con Mến nắm tay tui. Hổng phải tay chồng nó. Tay tui. Nó hỏi tui bảy lần: "Ảnh về chưa má?". Lần nào tui cũng nói: "Sắp về rồi con". Lần thứ bảy là gần sáng. Nó hổng hỏi nữa. Nó nói…
Bà Bảy ngừng lại rất lâu. Nhang trên bàn thờ đã tàn một nửa.
– Nó nói: "Má. Ảnh về thì má nói ảnh đừng giận ai hết nghen má".
Út Nhớ bật khóc thành tiếng.
Ngoài cửa sổ hông nhà, sau lớp vách gỗ, có một cái bóng đứng im.
Lộng về nhà lúc mười giờ kém năm. Con Nhớ nói với anh tối qua: sáng mai ba với cô Út vô bờ tái khám, anh về nhà lấy mấy bộ đồ đi, ngủ dưới tàu hai chục đêm rồi, áo quần hôi rình. Anh đi vòng ra sau, định vào bằng cửa bếp. Tới cửa sổ hông nhà thì anh nghe tiếng bà nội. Giọng bà nội, đều đều, rõ ràng, khác hẳn cái giọng run run thều thào mọi ngày.
"Nó biết cấm. Nó lén đi."
Anh đứng lại.
Anh đứng đó suốt từ lúc bà nội nói "Bốn giờ rưỡi chiều, nó xuống tàu", tới lúc bà nói "Má. Ảnh về thì má nói ảnh đừng giận ai hết nghen má". Anh đứng như bị đóng đinh xuống đất. Lưng anh dựa vào vách gỗ. Cái vách gỗ mà hồi nhỏ anh với con Nhớ hay khắc tên lên bằng cây đinh.
Về tới nhà thì trời vừa hửng.
Cái tát năm mười tuổi.
Mầy đừng hỏi ba mầy câu đó nữa nghen con.
Chuyện đó chú hổng nói được. Hổng phải chuyện của chú.
Tất cả những mảnh vỡ trong ba mươi năm, những mảnh anh nhặt được mà không biết ráp vào đâu, giờ tự nó khớp lại với nhau. Khớp một cách tàn nhẫn, gọn gàng, như hai mảnh của một cái chén vỡ được ghép lại. Đêm đó ba anh không ở nhà. Đêm đó ba anh đi giữ tàu. Đêm đó má anh chết mà người má hỏi tới bảy lần không có ở đó.
Và cái người mà cả đảo này đổ lỗi suốt ba mươi năm, cái người mà ba anh gọi là "con mụ", ít ra, ít ra thì cũng đã về. Ướt sũng, máu me, về trễ, nhưng đã về. Đã quỳ hai tiếng đồng hồ. Đã ở đó tới tiếng gà gáy.
Anh nghe bà nội nói tiếp.
– Sáu giờ sáng thằng Thới về. – Bà nói. – Nó đi bộ băng đồi về, quần áo rách te tua, chân chảy máu. Nó vô tới cửa thì thấy con Mến đắp chiếu rồi. Nó hổng khóc. Nó đứng đó. Nó đứng nguyên một ngày hổng nói một câu.
Rồi tới trưa, lời đồn tới. Bà mụ Huyên đêm qua ở phòng ông thầy giáo bên Gành Đen.
– Thằng Thới nghe. – Bà Bảy nói. – Nó nghe xong nó chạy đi kiếm con Huyên. Nó chửi con Huyên giữa xóm. Nó đánh thằng Cang gãy răng vì thằng Cang bênh con Huyên. Tui biết hết. Tui biết hết mà tui im.
– Răng bác im? – Ông Thuần hỏi. Giọng ông khàn đặc.
Bà Bảy nhìn ông.
– Ba bữa sau đám con Mến, – bà nói, – thằng Thới đi ra bãi, lúc nửa đêm. Nó đi thẳng xuống nước. Nước tới bụng. Tới ngực. Tới cổ. Thằng Cang thấy, thằng Cang chạy theo, lặn xuống lôi nó lên. Thằng Cang kể với tui. Hai người biết. Chỉ hai người.
Bà ngừng lại.
– Nó là con tui. – Bà nói. – Nó mất vợ. Nó tự biết nó bỏ vợ nó đi giữ cái tàu. Nó hổng sống nổi với cái đó. Rồi người ta đưa cho nó một người khác để giận. Nó chụp lấy. Nó giận con Huyên thì nó sống được. Tui để nó giận. Tui để cả đảo này giận. Tui để con Huyên mang cái tội đó đi. Vì nó là con tui.
Bà quay sang Tường Lam. Đôi mắt mờ đục của bà ướt đẫm.
– Tui hổng biết con Huyên đi đâu đêm đó. – Bà nói. – Tui hổng biết. Mà tui biết nó hổng đi với đàn ông. Đi với đàn ông về, hổng ai dính máu như dị. Tui biết từ cái sáng đó. Tui im hai mươi chín năm.
Bà nắm lấy bàn tay Tường Lam, bàn tay đeo chiếc vòng cước.
– Tui nợ má con. – Bà nói. – Tui hổng trả được nữa. Má con đi rồi. Tui chỉ nói được với con.
Tường Lam không nói được gì. Cô chỉ nắm chặt bàn tay già nua đó, nắm mãi. Ông Thuần đứng dậy, đi tới bên cửa sổ hông nhà, đứng quay lưng lại mọi người, gỡ kính ra lau. Lau rất lâu.
Lúc ông ngẩng lên, nhìn qua khe cửa sổ, Tường Lam thấy ông khựng lại.
Cô đứng dậy, bước tới cạnh cha. Qua khe cửa sổ, cô thấy một cái lưng áo thun xanh bạc màu đang đi ra phía sau vườn, đi chậm, rất chậm, đi qua gốc cây trứng cá già, đi ra con đường đất dẫn xuống bãi. Cái dáng đi hơi nghiêng về bên trái, như người quen đứng trên sàn tàu chòng chành.
Cô không gọi anh.
Chuyến tàu khách bốn giờ chiều đưa ông Thới và bà Gấm về. Bà Gấm chân bó bột, chống nạng, được hai thằng lính tàu đỡ xuống cầu cảng. Ông Thới chống gậy đi sau. Út Nhớ đứng ở quầy tạp hóa nhìn theo cha, mặt sưng húp, không chào.
Ông Thuần đi chuyến tàu đó vào bờ, rồi bắt xe đêm về Huế. Trước khi lên tàu, ông đứng với Tường Lam ở đầu cầu cảng, nắm tay cô, nhìn cô rất lâu.
– Ba vẫn không ưng. – Ông nói. – Mà ba không cấm con.
– Dạ.
– Thằng đó… – Ông ngừng lại. – Thằng đó nghe hết rồi, phải không con?
– Dạ.
Ông Thuần gật đầu chậm.
– Rứa thì để nó tự hỏi ba nó. – Ông nói. – Chuyện của cha con người ta, con đừng xen vô.
Đêm đó, Tường Lam không ngủ được. Cô ngồi trên bậc tam cấp dưới cái đèn đỏ tới gần mười hai giờ. Ngoài vũng, con tàu Thuận Buồm nằm im, cabin tối om. Cô không thấy anh. Cả ngày nay không ai thấy anh. Vững nói anh đi bộ lên đồi Mũi Trầu từ trưa, chưa về.
Mười một giờ năm mươi, có tiếng chân đi trên cầu cảng.
Lộng đi từ phía đồi xuống, đi chậm, tay không, áo thun xanh ướt đẫm sương đêm. Anh đi ngang qua trạm, không nhìn vào. Anh đi thẳng ra cầu cảng.
Ở cuối cầu cảng, nơi con tàu Thuận Buồm 09 buộc dây vào cọc, có một người đang ngồi. Ngồi trên mạn tàu, hai chân thả lủng lẳng trên mặt nước, cây gậy gỗ đặt bên cạnh. Ánh đèn đường vàng vọt hắt lên cái lưng còng, mái tóc hoa râm, cái chân phải duỗi thẳng.
Ông Năm Thới. Ông ngồi đó, trên mạn con tàu của con trai, cái con tàu mà ông đã cấm con trai ông mang về nhà, nhìn ra biển đen.
Lộng đi tới. Anh dừng lại ngay sau lưng cha, cách một sải tay.
Ông Thới không quay lại. Ông biết là ai.
Gió đêm thổi lạnh. Sóng vỗ vào mạn tàu, đều đều. Đèn đường nhấp nháy một cái, rồi sáng lại.
– Ba. – Lộng nói. Giọng anh không run. Giọng anh bằng phẳng như mặt nước trước cơn giông. – Đêm đó, ba ở đâu?
— Hết chương 18 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe