AI Truyện
Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

💞 Ngôn tình

Ông Tư Rớt không chịu vô bờ

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu · Chương 4/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Ông Tư Rớt không chịu vô bờ

– Đứa nào đụng cây kim vô tay ông là ông đập đứa đó!

Câu đó ông Tư Rớt nói ra chỉ nghe được một nửa, nửa kia méo xệch theo khóe miệng bên phải đang trễ xuống. Nhưng cả cái nhà lá đông nghẹt người đều hiểu. Một bà hàng xóm đang cầm cây kim may, đã hơ lửa đèn dầu, đứng khựng lại giữa nhà.

Tường Lam chen vào. Sáu giờ hai mươi lăm sáng Chủ nhật, cô chạy từ trạm tới đây mất bốn phút, cái túi cấp cứu đập vào hông đau điếng.

– Bà đừng chích. – Cô nói, giọng còn hụt hơi. – Chích máu đầu ngón tay không chữa được cái này đâu bà.

– Hồi xưa ông già tui trúng gió, chích mười đầu ngón là tỉnh. – Bà hàng xóm nói, nhưng cũng hạ cây kim xuống.

Ông Tư Rớt ngồi trên bộ ván gỗ kê sát vách, lưng dựa vào một chồng lưới cũ. Ông tám mươi mốt tuổi, gầy như que củi, da lưng đen bóng, hai bàn tay to bè quá khổ so với thân hình. Mặt ông lệch sang một bên như ai đó vừa kéo tuột một nửa. Cánh tay phải buông thõng trên đầu gối.

Đứa cháu gái gọi ông bằng ông chú, chị Tươi, kể lại một hơi: ông dậy từ năm giờ như mọi ngày, pha ấm trà, ngồi vá lưới. Sáu giờ mười, chị bưng chén cháo ra thì thấy cây kim đan lưới rớt dưới đất, ông ngồi ngó nó mà không lượm lên được. Chị hỏi, ông nói gì chị nghe không ra.

– Sáu giờ mười. – Tường Lam lặp lại. – Chị chắc không?

– Chắc. Tui nghe đài phát thanh xã đọc bản tin sáng sáu giờ, đọc xong tui mới múc cháo.

Cô quỳ xuống trước bộ ván. Bảo ông cười, ông cười, nửa mặt bên phải không nhúc nhích. Bảo ông giơ hai tay, tay phải lên được một chút rồi rớt xuống. Bảo ông nói "hôm nay trời nắng", ông nói ra một chuỗi âm thanh nhòe nhoẹt như nói dưới nước. Cô chích một giọt máu đầu ngón tay ông, đo đường huyết. Bình thường. Không phải hạ đường huyết.

Cô ngước lên nhìn đồng hồ treo tường. Sáu giờ ba mươi mốt.

– Ông Tư, con là bác sĩ ở trạm. Con nghĩ ông bị đột quỵ. Một mạch máu trong đầu ông bị tắc hoặc bị vỡ. Phải vào bệnh viện ngay để chụp phim coi là loại nào. Nếu là tắc, mà vào sớm, người ta có thuốc làm tan cục máu đông, ông có thể nói lại được, cầm được kim lưới lại được.

Ông Tư lắc đầu. Lắc rất mạnh, cái đầu bạc lắc qua lắc lại trên cái cổ gầy.

– Hổng… đi. – Lần này ông nói rõ hơn. – Tui… chết… ở đây.

– Ông…

– Tám mốt. – Ông giơ bàn tay trái, xòe tám ngón, rồi một ngón. – Đủ rồi.

Chị Tươi bắt đầu khóc. Mấy người trong nhà xì xào. Có người nói "Ông muốn dị thì để ông dị", có người nói "Bác sĩ nói thì nghe đi ông ơi", có người lặng lẽ đi ra ngoài châm thuốc.

Tường Lam ngồi bệt xuống nền xi măng, ngay dưới chân ông, cho mắt mình thấp hơn mắt ông.

Cô biết luật. Ông còn tỉnh, ông hiểu cô nói gì, ông có quyền từ chối. Cô có thể ép ông ký giấy cam đoan rồi về trạm, và không ai trách cô được. Nhưng cô cũng biết, trong ba tiếng, bốn tiếng nữa, cái cửa sổ đó sẽ đóng lại.

– Ông Tư. Vì sao ông không muốn vô bờ?

Ông nhìn cô. Đôi mắt già có màu nước biển đục buổi chiều.

– Bà… nhà tui. – Ông nói chậm, từng tiếng một, như kéo từng mắt lưới lên khỏi nước. – Chết… nhà thương… Quy Nhơn. Một mình. Bão. Tui… ở ngoài này… hổng vô được. Ba bữa.

Chị Tươi nói khẽ: "Bà Tư mất năm hai ngàn lẻ chín, bác sĩ. Bà vô mổ ruột thừa, rồi biến chứng. Bão ba ngày, ông ngồi ở cầu cảng ba ngày."

– Tui… hổng chết… ở chỗ đó.

Tường Lam im lặng một lúc. Ngoài sân, mấy con gà mái bới đất kêu cục tác. Từ phía Lăng Ông vọng lại tiếng chuông mõ của mấy bà đi lễ sáng Chủ nhật.

Rồi cô nhìn quanh nhà. Trên vách, chỗ cao nhất, treo một cây chèo gỗ sơn đỏ, đầu chèo vẽ hình mắt cá, cán chèo quấn vải điều đã bạc màu. Bên cạnh là một tấm ảnh lồng khung kính: một đám đàn ông cởi trần, quấn khăn đỏ trên đầu, ngồi xếp hai hàng như đang chèo thuyền trên cát. Người đứng ở đầu hàng đang há miệng hát, tay giơ cao. Người đó trẻ hơn bây giờ bốn chục tuổi, nhưng cô nhận ra hai bàn tay to bè.

– Ông là người hát bả trạo hả ông?

Ông Tư quay đầu nhìn tấm ảnh.

– Tổng mũi. – Chị Tươi nói thay. – Ông hát tổng mũi bốn chục năm nay. Lễ cầu ngư năm nào cũng ông đứng đầu. Năm sau là năm ông nói sẽ dạy thằng Lụi bên tàu anh Hai Lộng đứng thay ông.

– Lễ cầu ngư năm sau là tháng Giêng hả chị?

– Rằm tháng Giêng.

Tường Lam quay lại nhìn ông Tư.

– Ông Tư. Con không hứa với ông là ông sống được tới trăm tuổi. Nhưng con nói thật với ông: nếu ông vô bờ bây giờ, sáng nay, ông có cơ hội đứng hát được ở lễ cầu ngư rằm tháng Giêng. Nếu ông ở đây, con sợ là ông không nói được nữa. Ông không dạy được thằng Lụi hát câu nào nữa.

Ông Tư nhìn cô rất lâu.

– Con đi với ông. – Cô nói tiếp. – Con ngồi cạnh ông trên ca nô, con vô tới bệnh viện với ông. Chị Tươi đi nữa. Ông không ở đó một mình. Xong việc, con đưa ông về. Con hứa.

Bàn tay trái của ông, bàn tay còn cử động được, chậm chạp đưa ra, nắm lấy bàn tay cô. Nắm chặt tới mức cô thấy đau.

– Đi. – Ông nói.

Cô bấm số Đồn Biên phòng mà không buông tay ông ra.

Thượng úy Quang nghe xong, hỏi đúng một câu "Mấy giờ ông bị?", rồi nói: "Hai mươi phút nữa ca nô có mặt ở cầu cảng. Bác sĩ cho người khiêng ông ra." Ri chạy về trạm lấy bình oxy xách tay. Bốn thanh niên trong xóm tháo một tấm phản, đặt ông Tư lên, khiêng ra cầu cảng. Cả đoàn người lũ lượt đi theo, như một đám rước nhỏ giữa buổi sáng Chủ nhật.

Lúc đi ngang quán của Út Nhớ, Tường Lam thấy một người đàn ông ngồi ở bàn trong cùng, chân phải duỗi thẳng ra phía trước, một cây gậy gỗ dựng bên cạnh. Ông chừng sáu mươi, tóc hoa râm cắt ngắn, mặt đỏ, trước mặt là ly cà phê và một xị rượu đã vơi. Ông nhìn đám người khiêng tấm phản đi qua, nhìn cô, rồi quay mặt đi chỗ khác.

– Ông Năm Thới. – Ri thì thầm. – Ba anh Hai Lộng.

Cô chưa kịp nhìn lại thì đoàn người đã ra tới cầu cảng.

Ca nô của Đồn là một chiếc ca nô composite sơn xanh, mũi nhọn, đủ chỗ cho một tấm phản nằm ngang và bốn người ngồi. Biển sáng nay êm như mặt hồ, chỉ có những gợn sóng nhỏ lấp lánh nắng. Tường Lam ngồi xổm cạnh tấm phản, một tay giữ ống thở oxy dưới mũi ông Tư, một tay đặt trên ngực ông. Chị Tươi ngồi phía bên kia, nắm cái tay phải không còn cử động của ông, xoa xoa mãi.

Ca nô lao đi. Gió tạt vào mặt mặn chát. Lần này cô không nôn. Có lẽ là vì biển êm, có lẽ là vì không có thời gian để nôn.

Được nửa đường, ông Tư cựa quậy. Ông xoay đầu nhìn cô. Mắt ông mở to, như mới nhìn thấy cô lần đầu.

– Mầy… – Ông nói.

– Dạ, ông nói đi ông.

– Mầy giống… con Huyên.

Tường Lam ngồi im. Tiếng máy ca nô rền rĩ bên tai.

Đã mười ba ngày cô ở Hòn Trầu. Mười ba ngày, cô chưa hỏi ai về mẹ. Cô chỉ nghe, quan sát, và đợi. Trong túi áo khoác cô, trong cái ví vải mà cô không bao giờ rời người, có một tấm ảnh màu đã bạc. Trong ảnh, một người phụ nữ trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước một căn nhà vách ván mái tôn. Bên cạnh là một cô gái tuổi mười lăm mười sáu đội nón lá che gần hết mặt, chỉ thấy cái cằm nhọn và một bàn tay cầm búi cước xanh. Mặt sau tấm ảnh, nét chữ nghiêng nghiêng của mẹ: "Hòn Trầu, tháng Năm 1995."

Mẹ cô chưa bao giờ nói về cái đảo này. Cô chỉ biết mẹ sinh ra ở đây, mồ côi từ nhỏ, làm bà mụ ở đây mấy năm rồi vào Huế lấy chồng. Hỏi thì mẹ cười, nói "Ngoài đó có chi mô mà kể, toàn gió với cát". Ba cô cũng không biết gì hơn, hoặc biết mà không nói.

Cho tới tháng Sáu năm hai ngàn hai mươi ba.

Những ngày cuối ở bệnh viện, mẹ ngủ nhiều hơn thức. Có một đêm, gần sáng, mẹ bỗng mở mắt, nhìn lên trần nhà, nói rõ từng tiếng như đang nói với ai đứng ngay đó: "Gấm ơi, cột chân nó cho chặt…". Rồi mẹ khóc. Rồi một lúc sau, giọng mẹ khàn đi, lạc hẳn đi: "Chị không bỏ chị Mến. Chị không bỏ…". Ba cô ngồi bên giường, nắm tay mẹ, hỏi "Ai rứa em? Mến là ai?", mẹ không trả lời. Ba hôm sau mẹ mất.

Sau đám tang, lúc dọn đồ, cô tìm thấy tấm ảnh này, kẹp trong một cuốn sách hộ sinh cũ. Và chiếc vòng cước xanh, mẹ đeo trên cổ tay trái bao nhiêu năm, cô chưa từng thấy mẹ tháo ra, cô tự tay tháo ra khỏi tay mẹ và đeo vào tay mình.

Hai câu nói đó cô thuộc như thuộc tên mình. Cô không biết Gấm là ai, Mến là ai, "nó" là ai. Cô chỉ biết là mẹ đã mang hai câu đó trong người hai mươi bảy năm mà không nói ra với ai, và mẹ đã chọn nói nó vào đúng cái lúc không còn ai hỏi lại được nữa.

– Con Huyên… – Ông Tư lại nói, nước miếng chảy ra khóe miệng bên phải. Tường Lam lấy khăn lau cho ông. – Con Huyên… bỏ đảo… đi rồi.

– Dạ. – Cô nói khẽ. – Cô Huyên bỏ đảo đi rồi.

– Tội… nó.

Ông nhắm mắt lại.

Cô ngồi đó, một tay giữ ống thở, một tay đặt trên ngực ông, cảm nhận từng nhịp thở lên xuống. Chị Tươi nhìn cô, hỏi bằng mắt: "Ổng nói gì vậy?" Tường Lam lắc đầu, như nói "Ông lẫn". Chị Tươi gật, không hỏi thêm.

Ca nô cập bờ lúc bảy giờ bốn mươi. Xe cấp cứu đón ở cảng. Ở bệnh viện, phim chụp cho thấy một mạch máu não bị tắc. Ông Tư được dùng thuốc làm tan cục máu đông, trong giờ vàng, như cô đã mong. Gần trưa, ngón tay phải của ông nhúc nhích được. Mười hai giờ rưỡi, ông nói được câu "Tui đói" rõ ràng tới mức chị Tươi khóc òa giữa hành lang.

Cô ngồi lại với ông tới một giờ chiều. Trước khi về, cô cúi xuống sát tai ông.

– Ông Tư. Con về đảo đây. Khi nào ông khỏe, con ra đón ông về.

Ông mở mắt. Khóe miệng bên phải đã nhích lên được một chút. Ông nhìn cô, cái nhìn của người tỉnh táo hơn hẳn buổi sáng, và cô biết ông đang cố nhớ ra điều gì đó.

– Hồi sáng… tui nói gì… với cô hông?

Tường Lam ngừng lại một giây.

– Dạ không. Ông chỉ nói ông muốn hát.

Ông Tư nhìn cô thêm một lúc. Rồi ông nhắm mắt, gật đầu rất chậm, như một người vừa quyết định không hỏi thêm.

Chuyến tàu khách ra đảo rời cảng lúc hai giờ chiều. Tường Lam đứng ở boong sau, nhìn cái đảo hiện dần ra giữa biển, xanh thẫm, dài, gấp lại như một miếng trầu têm. Tay cô cầm tấm ảnh. Gió thổi tạt mép ảnh, cô phải giữ thật chặt.

Ở cái đảo đó, ít nhất có một người còn nhớ tên mẹ cô. Và người đó không nói "con Huyên có tội". Người đó nói "tội nó".

Cô chưa biết hai chữ ấy khác nhau xa tới đâu. Nhưng cô biết, lần đầu tiên từ khi bước xuống cầu cảng Bãi Nồm, mình đã đến gần mẹ thêm được một chút.

— Hết chương 4 —

Mục lục Bốn mùa gió ở Hòn Trầu

  1. 1Đêm đầu tiên ở trạm10 phút
  2. 2Bánh mì ở cảng lúc năm giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chấm đỏ dưới da bé Mắm10 phút đọc
  4. 4Ông Tư Rớt không chịu vô bờ11 phút đọc
  5. 5Bữa cơm có cá ngừ10 phút đọc
  6. 6Trăng rằm ở bãi Nồm10 phút đọc
  7. 7Cha và con trai trên mạn tàu11 phút đọc
  8. 8Ghe ông Sáu Hên bên bãi đá ngầm11 phút đọc
  9. 9Con gái bà mụ11 phút đọc
  10. 10Chuyện của chú Cang11 phút đọc
  11. 11Cá Ông vào bãi Nồm10 phút đọc
  12. 12Nhồi máu đêm giỗ11 phút đọc
  13. 13Lệnh cấm biển11 phút đọc
  14. 14Đêm không có trăng ở Gành Đen12 phút đọc
  15. 15Hốc đá dưới chòi lưới10 phút đọc
  16. 16Lời đồn đi sau cơn bão10 phút đọc
  17. 17Ông giáo Huế ra đảo10 phút đọc
  18. 18Bà nội kể chuyện đêm hai mươi chín năm trước10 phút đọc
  19. 19Câu trả lời trên mạn tàu11 phút đọc
  20. 20Gió bấc cuối năm11 phút đọc
  21. 21Tết Bính Ngọ10 phút đọc
  22. 22Bà Bảy không chịu chết ở đất liền10 phút đọc
  23. 23Lễ cầu ngư rằm tháng Giêng11 phút đọc
  24. 24Ba mươi bốn tuần10 phút đọc
  25. 25Vững muốn bỏ đảo10 phút đọc
  26. 26Mùa cạn nước10 phút đọc
  27. 27Hai người cãi nhau ở vũng Hang Rái10 phút đọc
  28. 28Sợi cước dưới đáy rương9 phút đọc
  29. 29Hai đứa trẻ trong một đêm10 phút đọc
  30. 30Giữ lời hay nói thật10 phút đọc
  31. 31Bão cuối mùa luân phiên10 phút đọc
  32. 32Cứu nạn10 phút đọc
  33. 33Người mẹ ngồi ngoài hiên trạm10 phút đọc
  34. 34Tên của cô mụ Huyên10 phút đọc
  35. 35Hỏi cưới bằng một con tàu9 phút đọc
  36. 36Sợi cước mới9 phút đọc

Về truyện này

Bốn mùa gió ở Hòn Trầu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →