Chương 5: Bữa cơm có cá ngừ
– Bụng cá. Ăn sống cũng được, mà ở đảo người ta nấu canh chua.
Lộng đặt lên bàn khám một gói lá chuối buộc dây cước, nặng trịch, lạnh ngắt, nước đá tan rỉ ra thấm ướt cả tờ giấy lót. Tường Lam đang ghi sổ tiêm chủng, ngẩng lên. Mười lăm ngày ngoài biển làm anh đen thêm một nước, môi nứt nẻ, râu lởm chởm, cái vết sẹo trên lông mày trắng ra giữa nền da cháy.
– Tàu về hồi nào anh?
– Hồi khuya cập Quy Nhơn, sáng bán cá, trưa về tới đây. – Anh nhìn quanh phòng khám, như kiểm tra xem có gì thay đổi. – Thằng Cò sao rồi?
– Về đảo từ hôm hai mươi sáu. Sáng nào cũng ra trạm thay băng, sáng nào cũng hỏi khi nào được đi tàu lại.
– Tui biết. Nó gọi tui ba lần ngoài biển. – Anh cười, cái cười rất ngắn. – Nó nói chị bác sĩ khâu đẹp hơn thợ may.
– Em ấy nói xạo. Bác sĩ trong bệnh viện khâu, không phải tôi.
Ri thò đầu vào cửa, nhìn gói lá chuối, nhìn Lộng, nhìn Tường Lam, rồi rụt đầu ra, mặt mày đầy ý nghĩa.
Lộng kể chuyến cá, kể ngắn như đọc biên bản: mười một con, hơn một tấn hai, thương lái nói cá chuyến này thịt không đỏ, ép xuống còn trăm mười tám một ký. Trừ dầu, trừ đá, trừ tiền ăn, chia lương cho lính, còn được một chút. Anh nói "một chút" mà không nói con số, và Tường Lam nghe trong hai chữ đó cả một cái hầm cá trống trơn.
– Tiền viện của thằng Cò, phần bảo hiểm hổng trả, tui trả rồi. – Anh nói thêm. – Cô đừng để má nó lên đây đưa tiền cảm ơn. Bả đưa thì cô cứ đẩy về nhà tui.
– Chị Lệ đưa rồi. Tôi không nhận.
– Dị là được.
Anh đứng dậy đi ra, tới cửa thì dừng lại.
– Tối nay con Nhớ nấu canh chua. Nó biểu tui mời cô.
Nhà Út Nhớ ở ngay sau quán tạp hóa, một căn nhà xây hai gian, sân lát gạch đỏ, góc sân có cái giếng đậy nắp tôn và một giàn mồng tơi xanh mướt. Lúc Tường Lam tới, trời vừa sụp tối, thằng Su đang cầm cây đèn pin rọi khắp các bụi cây để tìm con cua Bốn Càng mà nó nói đã "vượt ngục". Tâm, chồng Nhớ, một người đàn ông ít nói, tay đen dầu nhớt, gật đầu chào cô rồi lại cúi xuống gắn cái dây phơi bị đứt.
Bà Bảy Giỏi ngồi trên cái ghế mây ở hiên, Lộng vừa chở bà qua bằng xe máy. Bà vẫn nhai trầu, vẫn nhìn Tường Lam bằng đôi mắt mờ đục đó, nhưng không nói gì về chuyện "giống một người" nữa. Bà chỉ hỏi cô đã ăn gì chưa, ngủ được không, ở trạm có bị muỗi cắn không.
– Ba anh không qua hả anh? – Tường Lam hỏi nhỏ khi Lộng bưng cái mâm nhôm lên.
– Ổng ngồi quán. – Lộng nói, không nhìn cô. – Ổng hổng ăn tối. Ổng uống tối.
Trên mâm có một nồi canh chua cá ngừ nấu với thơm, cà chua, đậu bắp, me, rắc ngò om; một đĩa cá ngừ kho tiêu sậm màu; một đĩa rau muống luộc và chén nước mắm nhĩ dằm ớt. Út Nhớ vừa dọn vừa kể nồi canh này phải nấu cỡ nào, me phải là me đất mới chua thanh, cá phải cắt khúc dày cỡ hai lóng tay, nêm phải nêm bằng nước mắm nhĩ của cô Út.
– Cô Út em làm nước mắm ngon nhất đảo. – Nhớ nói. – Cô Út lát nữa tới.
Tường Lam đang cầm đôi đũa. Cô hỏi, giọng cố cho thật bình thường:
– Cô Út tên gì Nhớ?
– Cô Út Gấm. Em gái út của ba em. Ở bên Gành Đen.
Đôi đũa trong tay cô không rơi. Cô đặt nó xuống mép mâm, thẳng hàng, rất cẩn thận, như người ta đặt dao mổ xuống khay.
Gấm. Gấm ơi, cột chân nó cho chặt.
Trên cái đảo hai ngàn mốt người này, bao nhiêu người tên Gấm? Cô không biết. Có thể là năm, có thể là mười. Một cái tên hay gặp. Cô tự nhủ như vậy ba lần, cho tới khi nghe tiếng dép lẹp xẹp ngoài cổng.
Người đàn bà bước vào sân chừng ngoài bốn mươi tuổi, người gầy và rắn như một khúc cây đước phơi khô, da đen sạm, tóc búi gọn sau gáy bằng một cái kẹp làm từ xương cá. Bà mặc bộ đồ bà ba màu nâu đất, ống quần xắn tới gối, tay xách một cái giỏ nhựa đựng mấy xâu cá khô.
– Ăn hết chưa mà dọn sớm dị bây? – Bà nói, giọng sang sảng. – Lộng, cá khô đây, cá chỉ vàng tao mới phơi, đem cho ba mầy nhậu bớt rượu. Ủa, ai đây?
– Bác sĩ trạm đó cô Út. – Nhớ nói. – Chị Tường Lam.
– À. Bác sĩ thành phố. – Bà Gấm nhìn cô từ đầu xuống chân, môi nhếch lên. – Nghe nói ói dữ lắm hả?
Cả mâm cười ồ. Tường Lam cũng cười, cười theo, không biết mình cười cái gì.
Út Nhớ sai Gấm bưng giùm cái mâm nhỏ trong bếp ra, trên đó có bốn chén canh chua đã múc sẵn cho bà nội, cho thằng Su và hai chén dư. Gấm bưng ra, đi ngang qua chỗ Tường Lam ngồi. Tường Lam đứng dậy theo phản xạ, đưa hai tay ra đỡ cái mâm cho người lớn tuổi.
Tay áo bên trái của cô tuột lên.
Cái mâm không rơi ngay. Nó dừng lại giữa không trung một giây, giữa hai bàn tay của Gấm và hai bàn tay của Tường Lam. Rồi Gấm buông tay.
Bốn chén canh đổ ụp xuống nền gạch. Nước canh chua nóng hổi văng tung tóe, mấy khúc cá ngừ lăn lông lốc, một cái chén sành vỡ làm đôi. Thằng Su la lên. Tâm nhảy dựng dậy. Bà Bảy quờ quạng hỏi: "Cái gì rớt dị? Cái gì rớt?"
– Tay tui trơn. – Gấm nói, và cười. Tiếng cười to quá, nhanh quá. – Trời ơi, dầu cá dính tay tui, trơn lùi. Để tui dọn. Để tui dọn.
Bà ngồi xổm xuống lượm mảnh chén vỡ bằng tay không. Tường Lam cũng ngồi xuống.
– Cô để con. Cô coi chừng đứt tay.
– Hổng sao. Tay tui đứt quen rồi.
Hai người ngồi xổm đối diện nhau trên nền gạch ướt. Gấm lượm từng mảnh sành, mắt không nhìn mảnh sành. Mắt bà nhìn cổ tay trái của Tường Lam, chỗ chiếc vòng cước xanh lấp ló dưới mép tay áo, ba hạt thủy tinh đục mờ bắt ánh đèn điện vàng.
Rồi bà ngẩng lên. Hai đôi mắt gặp nhau. Trong một giây, Tường Lam thấy trong mắt người đàn bà đó một thứ cô không đặt tên được. Không phải giận. Giống như người ta thấy một con sóng lớn trước khi nó đổ xuống.
– Cô Út đứt tay rồi kìa. – Lộng nói từ phía sau.
Ngón cái của Gấm rỉ một vệt máu đỏ. Bà nhìn nó như nhìn vết máu của ai khác.
Tường Lam băng cho bà bằng miếng băng cá nhân trong túi áo. Gấm để yên cho cô băng, không nói gì, rồi đứng dậy. Bà không ăn. Bà nói còn phải về coi cá phơi kẻo chó tha, rồi đi ra cổng, bước nhanh, cái giỏ nhựa đung đưa bên hông. Tới cổng, bà quay lại, hỏi một câu, không phải hỏi ai:
– Bác sĩ quê ở đâu?
– Dạ Huế.
– Ba má làm gì?
Tường Lam ngừng lại nửa giây.
– Ba con dạy toán. Má con… ở nhà nội trợ.
Gấm gật đầu, rồi đi mất vào bóng tối. Tiếng dép lẹp xẹp xa dần trên con đường bê tông.
Cả bữa cơm còn lại, Út Nhớ nói luôn miệng để lấp cái khoảng trống. Thằng Su tìm ra con Bốn Càng trong lu gạo. Bà Bảy ăn được nửa chén cơm. Lộng im lặng, nhưng mấy lần Tường Lam ngẩng lên, cô gặp mắt anh đang nhìn mình, và lần nào anh cũng nhìn đi chỗ khác chậm hơn cần thiết một chút.
Sáng Chủ nhật, anh chở cô đi vòng đảo.
Chiếc xe máy cũ của anh tróc sơn, phanh kêu ken két, nhưng máy khỏe. Họ đi từ Bãi Nồm men theo con đường bê tông chạy vòng chân đồi Mũi Trầu. Một bên là đồi cỏ lác đác bụi xương rồng và mấy con dê đen gặm cỏ, một bên là biển xanh tới mức nhìn lâu thấy nhức mắt. Gió thổi phần phật vạt áo. Anh chỉ cho cô từng thứ, kiệm lời như đọc bản đồ: đây là Lăng Ông, đây là trạm ra đa trên đỉnh, đây là chỗ hồi xưa có trạm xá vách ván.
Anh dừng xe trước một khoảnh đất trống mọc đầy cây dương, cát trắng lẫn vỏ ốc.
– Trạm xá cũ ở đây. Năm hai ngàn mười hai xây trạm mới bên kia thì dỡ cái này đi.
Tường Lam xuống xe. Cô đứng giữa hàng dương, nhìn quanh. Không có gì. Không một viên gạch, không một tấm ván. Chỉ có gió rít qua lá dương thành một tiếng hú dài. Cô thử đứng ở chỗ mà cô nghĩ là cửa trạm xá, quay người lại, tìm góc nhìn của tấm ảnh năm 1995. Sau lưng người phụ nữ áo trắng là một rặng đồi thấp, có một tảng đá nhô ra hình mũi thuyền.
Tảng đá vẫn còn đó. Mũi thuyền chĩa về phía đông.
– Cô kiếm gì? – Lộng hỏi.
– Không. – Cô nói. – Đẹp quá.
Họ vượt dốc Cổ Ngựa, một con dốc dài và gắt chạy vắt qua lưng đồi, một bên là vách đá, một bên là vực thẳng xuống biển. Anh nói mùa mưa đoạn này hay sạt, đá lăn xuống chặn đường, có năm cả tuần Gành Đen bị cô lập.
Xóm Gành Đen nằm trong một cái vịnh nhỏ kẹp giữa hai mỏm đá bazan đen bóng. Ở đây nhà thấp hơn, nghèo hơn, mái tôn nhiều hơn mái ngói. Khắp bãi cát là những giàn tre phơi cá, cá cơm, cá chỉ vàng, cá mối xếp thẳng hàng óng ánh dưới nắng. Mùi cá khô nồng nặc. Mấy bà ngồi dưới bóng cây bàng vá lưới, tay đưa thoăn thoắt, ngước lên nhìn hai người, rồi chụm đầu vào nhau.
Anh chỉ lên một ngôi nhà gạch nhỏ nằm tách riêng trên mỏm đá, sát mép nước.
– Chòi lưới của cô Út. Hồi xưa là chòi chứa lưới của ông nội, cô Út sửa lại ở luôn.
Cửa khóa. Trước nhà có hai giàn cá phơi và một đống lưới cũ chất cao. Trên bậu cửa sổ quay ra biển có một cái hũ thủy tinh lớn. Nắng chiếu qua, cái hũ sáng lên một màu xanh lục nhạt lấp lánh.
Tường Lam nheo mắt nhìn. Trong hũ đầy những mảnh thủy tinh nhỏ, xanh lá, xanh ngọc, trắng đục, nâu hổ phách, mặt mảnh nào cũng mờ mờ như phủ sương.
– Cái hũ gì vậy anh?
– Chai bể. Sóng mài lâu năm nó tròn lại. Cô Út lượm từ hồi nhỏ. Hồi tui còn nhỏ, cô Út hay khoan lỗ xâu thành vòng cho tui đeo. – Anh nhún vai. – Lớn rồi thì đâu có đeo.
Cô không nói gì. Tay phải cô đặt lên cổ tay trái, lên ba hạt thủy tinh nằm dưới lớp vải áo.
Trên đường về, qua dốc Cổ Ngựa, Lộng tắt máy giữa chừng dốc. Xe trôi chậm lại rồi dừng hẳn. Anh chống chân, không quay lại.
– Bác sĩ.
– Dạ.
– Ở đây có cái chuyện không ai nói. – Anh nói, giọng thấp. – Chuyện cũ. Ba tui nghe ai nhắc là nổi điên. Cô ở trạm, người ta hay đem cô ra so với bà mụ hồi trước. Cô nghe thì để đó. Đừng hỏi ai trên đảo về bà mụ đó hết.
– Vì sao?
Anh vặn chìa khóa. Máy nổ. Gió trên đỉnh dốc tạt ngang làm câu trả lời của anh vỡ ra từng mảnh.
– Vì có người trên đảo này chết vì bả.
— Hết chương 5 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe