Chương 17: Ông giáo Huế ra đảo
– Ngoài ni sóng rứa mà con chịu được hai tháng rưỡi răng?
Ông Võ Đình Thuần bước xuống cầu cảng Bãi Nồm, một tay vịn lan can, một tay ôm cái túi vải, mặt xanh như tàu lá chuối. Ông sáu mươi tuổi, người gầy, đeo kính gọng đen, mặc áo len cổ lọ màu nâu dù trời ngoài đảo đang nắng hai mươi tám độ. Mái tóc bạc chải ngôi lệch đã bị gió đánh rối tung.
– Ba ói mấy lần?
– Bốn. – Ông nói, rồi nghiêm mặt lại. – Lần thứ năm ba nuốt xuống được.
Tường Lam ôm chầm lấy cha. Ông đứng im một giây, rồi vỗ vỗ lên lưng cô, vụng về như mọi lần. Cô ngửi thấy mùi dầu khuynh diệp, mùi áo len cũ, mùi của căn nhà trong kiệt gần chợ Bến Ngự. Cô thấy mắt mình cay.
– Răng con ốm rứa? – Ông đẩy cô ra, nhìn từ đầu xuống chân. – Đen nữa. Con ăn uống chi ngoài ni?
– Cá ba ạ. Ngày nào cũng cá.
Trong cái túi vải có hai hũ mắm ruốc, một bịch mè xửng, một bịch tôm chua và một cái khăn len màu xám ông tự đan. Ông đan khăn từ hồi mẹ mất, ngồi trước hiên đan suốt mùa đông, đan xong cái nào cũng méo, nhưng lần nào cũng gói cho cô một cái.
– Ngoài ni nóng rứa con quàng chi được. – Ông nói, đưa cái khăn. – Mà thôi, con cứ cầm.
Cô đưa ông về trạm. Ông đi chậm, nhìn mọi thứ: những mái tôn mới lợp lại sau bão sáng loáng dưới nắng, những gốc phi lao đổ còn nằm ven đường, những đứa con nít chân trần chạy theo nhìn người lạ. Tới cổng trạm, ông dừng lại.
Ông nhìn lên hiên. Cái bóng đèn đỏ của bà Tư Hoa trên khung cửa.
Ông đứng nhìn nó rất lâu. Tường Lam đứng bên cạnh, không nói gì.
– Đèn của má con. – Ông nói nhỏ.
– Dạ.
Ông gỡ kính ra, lau lau bằng vạt áo len, đeo lại. Rồi ông đi vào.
Chú Cang ra đón. Hai người đàn ông, một Huế, một đảo, đứng đối diện nhau ở hiên trạm, bắt tay nhau lâu hơn mức bình thường. Chú Cang nói "Chào anh", ông Thuần nói "Chào anh", rồi cả hai im. Ri bưng ra một ấm trà. Ba người ngồi xuống băng ghế dài.
– Cô Huyên đỡ đẻ giỏi nhất cái đảo này. – Chú Cang nói. – Giỏi nhất từ hồi đó tới giờ. Đứa nào ra ngược, cô xoay được. Đứa nào hổng thở, cô làm cho nó thở. Mấy chục đứa con nít trên đảo bây giờ đã ba mươi tuổi, là cô đỡ cho.
Ông Thuần gật đầu. Tay ông cầm chén trà, không uống.
– Ở Huế cũng rứa. – Ông nói. – Trong kiệt nhà tôi, nhà mô có người đẻ đều kêu vợ tôi. Nửa đêm, mưa gió chi cũng đi. Có lần tôi hỏi răng em không nghỉ cho khỏe, vợ tôi nói "Em không đi thì em không ngủ được".
Chú Cang nhìn xuống chén trà của mình.
– Chú… – Ông nói, rồi sửa lại. – Anh. Năm đó tôi hổng ra bến tiễn cô Huyên. Tôi sợ. Tôi xin lỗi anh.
Ông Thuần nhìn chú Cang. Rồi ông đặt chén trà xuống, đặt tay lên vai chú Cang, vỗ hai cái.
– Anh không có lỗi chi. – Ông nói. – Vợ tôi nhắc tên anh hai lần. Lần mô cũng nói "Cang hiền lắm".
Chú Cang quay mặt đi. Tường Lam thấy vai ông run lên.
Gần trưa, Lộng tới.
Anh mặc cái áo sơ mi trắng duy nhất, cái áo anh mặc đi đám cưới, cổ áo còn nếp gấp. Tóc anh cắt ngắn hơn, râu cạo sạch, cái vết sẹo trên lông mày trái lộ rõ dưới nắng. Anh đứng ở chân tam cấp, không bước lên.
– Thưa chú. Con là Lộng.
Ông Thuần ngồi trên băng ghế, không đứng dậy. Ông nhìn Lộng từ đầu xuống chân, nhìn chậm, như một ông giáo nhìn bài kiểm tra của học trò. Mắt ông dừng lại ở hai bàn tay anh: chai sần, đen sạm, chi chít sẹo nhỏ, mấy đốt ngón còn băng.
– Anh lên đây ngồi. – Ông nói.
Lộng lên, ngồi xuống đầu bên kia băng ghế, lưng thẳng như cây cột.
– Con gái tôi nói anh ngủ dưới tàu. – Ông Thuần nói. – Mấy đêm rồi?
– Mười chín đêm, thưa chú.
– Vì con tôi?
Lộng nhìn ông.
– Vì con chọn. – Anh nói.
Ông Thuần im một lúc. Ông cầm chén trà lên, lần này uống một ngụm, rồi đặt xuống.
– Tôi không ưng. – Ông nói. Giọng ông bình thản, rõ ràng, như đọc một định lý. – Tôi nói thẳng để anh biết. Con gái tôi học sáu năm y khoa, ra trường ba năm. Nó ra đảo ni một năm vì nó muốn biết chuyện của má nó. Hết năm, nó về. Tôi không muốn con tôi ở lại một cái đảo đã làm má nó khóc hai mươi bảy năm. Tôi không muốn con tôi lấy chồng trong một nhà mà người ta gọi má nó là con mụ.
– Ba… – Tường Lam nói.
– Con để ba nói. – Ông giơ tay lên, không nhìn cô. – Anh hiểu tôi nói chi không?
– Dạ hiểu. – Lộng nói. Anh không cúi đầu. – Con cũng nói thẳng để chú biết. Con hổng hứa gì được với chú. Con hổng biết cổ có ở lại hay không. Con chỉ biết con hổng để ai gọi má cổ như dị trước mặt con nữa. Kể cả ba con.
Ông Thuần nhìn anh. Lần này, Tường Lam thấy trong mắt cha mình có một cái gì đó dịch chuyển, rất nhỏ, như một hòn sỏi lăn đi một chút dưới đáy suối.
– Được. – Ông nói. Rồi ông đứng dậy, phủi áo len. – Chiều ni anh dẫn tôi ra cầu cảng. Tôi muốn coi cái chỗ vợ tôi đi tàu lần cuối.
Bốn giờ chiều, cầu cảng Bãi Nồm đông người như mọi buổi chiều. Ghe lưới gần bờ đã về, người ta đang cân cá, phân loại cá, đổ cá vào thùng xốp. Mấy bà bán cá ngồi chồm hổm, mặc cả ầm ĩ. Út Nhớ đứng sau quầy tạp hóa, thấy ba người đi ra, mặt tái đi.
Ông Năm Thới ngồi ở cái bàn cuối dãy quán bên cạnh, chỗ quen thuộc, chân phải duỗi thẳng, cây gậy mới dựng bên ghế. Trước mặt ông là ly trà đá, không có rượu. Ông thấy Lộng. Rồi ông thấy người đàn ông lạ mặc áo len đi bên cạnh con trai mình, bên cạnh con nhỏ bác sĩ.
Ông đứng dậy.
Ông Thuần cũng thấy ông. Không ai cần giới thiệu. Ông Thuần đi thẳng tới, dừng lại cách cái bàn hai bước chân. Hai người đàn ông, hai ông già, một gầy và thẳng như cây bút, một gầy và còng như cái neo cũ, đứng nhìn nhau giữa tiếng cân cá, tiếng mặc cả, tiếng sóng vỗ.
– Tôi là Võ Đình Thuần. – Ông Thuần nói. – Chồng của Lê Thị Huyên.
Cả dãy quán im bặt. Mấy bà bán cá ngừng tay. Cái cân đồng hồ của ai đó còn đang lắc lư, kim chỉ chạy qua chạy lại rồi dừng.
Mặt ông Thới đỏ lựng lên. Bàn tay ông chụp lấy cây gậy.
– Ông ra đây làm gì? – Ông Thới rít lên. – Ông ra đây bênh con mụ đó hả? Ông có biết con mụ đó…
– Tôi biết vợ tôi. – Ông Thuần nói, giọng không lớn, không nhỏ, rõ từng chữ như đang giảng bài ở bục. – Tôi sống với vợ tôi hai mươi sáu năm. Anh biết vợ tôi được mấy năm?
Ông Thới há miệng, rồi ngậm lại.
– Tôi không ra đây để cãi với anh. – Ông Thuần nói tiếp. – Vợ tôi mất rồi. Vợ anh cũng mất rồi. Hai người đó không cần chúng ta cãi nhau nữa. Tôi ra đây để nói với anh hai điều, rồi tôi về.
Ông ngừng lại một chút.
– Điều thứ nhất. Vợ tôi khóc hai mươi bảy năm vì cái đảo ni. Không đêm mô bão về mà vợ tôi ngủ được. Đêm mô có tin bão vô miền Trung, vợ tôi ngồi ngoài hiên tới sáng, bật cái đèn đỏ, không làm chi hết, chỉ ngồi. Hai mươi bảy năm, vợ tôi chưa từng nói một câu xấu về anh, về nhà anh, về ai ở cái đảo ni. Một câu cũng không.
Ông Thới đứng im. Cây gậy trong tay ông run lên.
– Điều thứ hai. – Ông Thuần nói. – Năm chín bảy, đêm đầu tiên về nhà tôi, vợ tôi nói với tôi một câu. Một câu thôi. Vợ tôi nói: "Em không về trễ vì đàn ông." Rồi từ đó tới ngày vợ tôi mất, vợ tôi không nói thêm chữ nào về cái đêm đó. Tôi cũng không hỏi.
– Hổng vì đàn ông thì vì cái gì? – Ông Thới gào lên. Giọng ông vỡ ra. – Nó ở đâu? Đêm đó nó ở đâu? Ông nói đi! Ông biết thì ông nói đi!
– Tôi không biết. – Ông Thuần nói. – Tôi chưa từng hỏi. Có những người, mình thương thì mình không hỏi. Mình tin.
Ông Thuần nhìn ông Thới thêm một lúc nữa. Rồi ông nói, giọng nhỏ hẳn đi, nhỏ tới mức chỉ những người đứng gần mới nghe được:
– Anh Thới. Tôi cũng mất vợ. Tôi biết cái đó ra răng. Tôi chỉ hỏi anh một câu: đêm đó, anh có hỏi vợ tôi đi mô không? Hay anh chỉ nghe người ta nói?
Ông Thới đứng sững như trời trồng.
Tường Lam thấy mặt ông thay đổi. Không phải giận. Cơn giận đã rút khỏi khuôn mặt ông như nước ròng rút khỏi bãi, để lại một thứ gì đó trơ trọi, xám xịt, như những tảng đá đen dưới mỏm Gành Đen lúc biển cạn. Ông nhìn ông Thuần. Rồi ông nhìn Lộng. Rồi ông nhìn xuống mặt bàn.
Ông không trả lời.
Ông chụp cây gậy, quay lưng, đi cà nhắc xuyên qua đám đông, đi về phía cuối xóm, đi nhanh tới mức suýt vấp trên mặt đường bê tông. Không ai cản. Không ai nói gì. Út Nhớ đứng sau quầy, hai tay bịt miệng.
Ông Thuần đứng đó thêm một lúc. Rồi ông quay lại, nhìn con gái.
– Đi về. – Ông nói. – Ba mệt.
Ông Thuần ở nhà khách của Ủy ban xã, một căn phòng nhỏ có cái quạt trần kêu cót két và cái cửa sổ nhìn ra biển. Tối, Út Nhớ mang tới một mâm cơm: cá ngừ kho, canh rau ngót, đĩa mực một nắng nướng. Nhớ đặt mâm xuống, khoanh tay cúi đầu chào ông Thuần, rồi đứng lúng túng ở cửa.
– Con là con gái ông Thới. – Nhớ nói. – Con là đứa đẻ ra đêm đó.
Ông Thuần nhìn Nhớ. Nhìn cái bụng tròn dưới lớp áo bầu. Ông đứng dậy, đi tới, nắm lấy hai bàn tay Nhớ.
– Vợ tôi đỡ con ra. – Ông nói. – Vợ tôi chưa từng kể với tôi. Mà tôi biết, vợ tôi nhớ con.
Nhớ khóc. Nhớ không nói được câu nào, chỉ gật đầu, gật đầu mãi.
Chín giờ tối, Nhớ trở lại nhà khách lần thứ hai. Lần này Nhớ đi vội, áo khoác trùm đầu, thở hổn hển.
– Chú. Chị Hai. – Nhớ nói. – Bà nội em sai em đi. Bà nói mai ba em với cô Út vô bờ tái khám chuyến tàu chín giờ rưỡi. Bà nói sáng mai, mười giờ, chú với chị Hai qua nhà.
– Bà có chuyện chi không con? – Ông Thuần hỏi.
Nhớ lắc đầu.
– Em hổng biết. Bà hổng chịu nói. Bà chỉ nói một câu thôi. – Nhớ ngừng lại, nhìn Tường Lam. – Bà nói: "Tui để nó sống với cái lời nói dối đó hai mươi chín năm. Đủ rồi."
— Hết chương 17 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe