Chương 32: Cứu nạn
– Thả neo! Neo thứ hai! Lụi, dây bờ! Cột vô cục đá trên vách, cục đá chỗ gốc cây chết!
Ba giờ mười sáng Chủ nhật, tàu Thuận Buồm 09 chui vào vũng Hang Rái như một con cá chui vào hốc đá. Bên ngoài miệng vũng, biển gầm. Sóng đập vào hai vách đá dựng đứng, tung bọt trắng cao hơn cột ăng ten. Bên trong vũng, nước chỉ dập dềnh, đen như mực, cái hang đá cuối vũng nuốt nước ục ục.
Lộng đứng ở mũi tàu, cái đèn pha trong tay, rọi lên vách. Thằng Lụi đu dây leo lên mỏm đá, quấn sợi dây bờ quanh một tảng đá lớn ngay cạnh cái gốc cây chết khô, đúng chỗ anh với cô đã ngồi hồi tháng Năm. Đúng chỗ ba anh đã cột dây ba mươi năm trước.
Anh không nghĩ tới chuyện đó lúc này. Anh để dành nó cho sau.
Anh chui xuống mái che sau cabin. Thằng Vững nằm trên tấm bạt, đắp ba lớp chăn, mặt trắng như tờ giấy, môi nhợt, mắt nhắm. Cánh tay trái nó quấn cả cuộn băng, chỗ cổ tay đã thấm đỏ một vệt to bằng bàn tay. Sợi khăn rằn ga-rô vẫn nằm lỏng trên cẳng tay nó, khúc cây cột sẵn. Chú Mười Ốc ngồi bên cạnh, hai ngón tay đặt trên cổ nó, môi lẩm nhẩm đếm.
– Một trăm ba mươi. – Chú Mười nói. – Nhanh hơn lúc tối. Băng thấm thêm hồi mười hai giờ, tui đè thêm khăn.
Lộng quỳ xuống cạnh thằng Vững. Nó mở mắt, nhìn anh.
– Anh Hai. Tới chưa?
– Tới rồi. Mầy nằm yên.
– Tàu ông Bảy…
– Tàu cứu hộ kéo vô Quy Nhơn rồi. Mười một người, đủ.
Thằng Vững cười, cái cười méo xệch, rồi nhắm mắt lại.
Năm giờ bốn mươi, trời vừa xám, có tiếng máy ca nô vọng vào từ phía miệng vũng.
Chiếc ca nô composite xanh của Đồn lách qua giữa hai vách đá, chòng chành dữ dội ở khúc cửa vũng rồi êm lại khi vào trong. Thượng úy Quang cầm lái. Hai chiến sĩ áo phao cam ngồi mũi. Và giữa họ là cô, áo mưa trùm kín, ôm cái túi cấp cứu bọc ba lớp ni lông vào ngực, mặt xanh lét như tàu lá. Sau lưng cô là con Ri.
Ca nô áp mạn. Cô nhảy sang tàu, chân vừa chạm boong đã quỳ xuống mép mạn nôn một lần, chùi miệng, rồi đứng dậy đi thẳng vào mái che. Con Ri nhảy sang theo, nhào tới bên thằng Vững, nắm lấy bàn tay phải của nó.
– Đồ ngu. – Con Ri nói. – Đồ ngu, đồ ngu.
– Em… – Thằng Vững mở mắt. – Em nói đừng nói em rồi mà.
Cô không nhìn ai. Cô quỳ xuống, ngón tay đặt lên cổ thằng Vững, mắt nhìn đồng hồ, ngón tay kia gõ lên đùi. Rồi cô vén chăn, nhìn cánh tay phỏng, nhìn cái băng thấm đỏ.
– Hai đường truyền. – Cô nói với con Ri. – Kim lớn. Tay phải với chân. Mở hết.
Con Ri buông tay thằng Vững ra, và trong mười giây, con Ri đã thành một người khác. Lộng chưa từng thấy con Ri như vậy. Nó luồn kim, cố định, treo chai dịch lên sợi dây thừng anh đã cột dưới mái che từ một năm trước, nhanh, gọn, không run.
– Anh. – Cô quay sang anh. – Đèn. Rọi vào cổ tay Vững. Em phải mở băng ra, kiếm cái mạch máu đang chảy, kẹp nó lại, buộc nó lại. Không thì máu cứ rỉ hoài, mà đi đường xa là bung ra.
Anh cầm cái đèn pha, quỳ xuống bên cạnh cô, chỉnh chùm sáng xuống đúng chỗ cô cần. Như cái đêm ở Gành Đen. Như cái đêm con Hà My.
Cô gây tê. Cô mở băng từng lớp. Cô lấy từng miếng vải ra khỏi vết cứa. Máu đỏ tươi rỉ lên, rồi phụt thành một tia nhỏ. Thằng Vững quay đầu lại nhìn.
– Đừng nhìn! – Con Ri và cô cùng nói một lúc.
Thằng Vững xỉu.
– Tốt. – Cô nói. – Nằm yên vậy càng dễ.
Lộng nghe chú Mười Ốc phì cười sau lưng, một tiếng cười run run như khóc.
Cô làm trong hai mươi lăm phút. Anh không biết cô làm gì. Anh chỉ thấy hai bàn tay cô đeo găng, cầm mấy cái kẹp nhỏ bằng thép sáng loáng, lách vào trong vết cứa, kẹp, buộc chỉ, cắt chỉ. Anh thấy máu thôi phụt, rồi thôi rỉ. Anh thấy cô khâu da lại, từng mũi, như cô Út vá lưới. Anh giữ cái đèn không xê dịch một phân. Mồ hôi cô chảy xuống mắt. Anh lấy tay áo lau cho cô, như đêm Gành Đen.
Sáu giờ mười lăm, cô ngồi thẳng lưng lên.
– Cầm được rồi. – Cô nói. – Phỏng thì nặng, mà phỏng để được. Mất máu nhiều. Phải nằm nghỉ, truyền dịch, theo dõi. Phải ra trạm.
– Ca nô? – Anh hỏi.
Thượng úy Quang lắc đầu. Anh đứng ở mép mạn, nhìn ra miệng vũng, nơi những con sóng đã cao hơn lúc nãy.
– Lúc vô tui đã hú vía. Giờ ra, chở thêm người nằm cáng, đi vòng mũi phía nam, sóng ngang mạn, tui không dám. – Anh nói, giọng Nghệ nặng trịch. – Tui đưa hai chiến sĩ về. Bác sĩ ở đây, tui gọi dân quân mang cáng qua đường đồi.
Lộng nhìn lên vách đá. Con đường mòn băng qua đồi Mũi Trầu. Một tiếng hai mươi phút đi bộ trời nắng. Khiêng một người nằm cáng, trong mưa bão, chắc gấp ba.
– Đi đường đồi. – Anh nói.
Họ đợi. Đợi thằng Vững tỉnh hẳn, đợi mạch nó chậm lại, đợi chai dịch thứ hai, chai thứ ba. Mười giờ, dân quân mang cáng tới, đi bộ từ Bãi Nồm sang theo con đường mòn, ướt như chuột lột, nói trên đồi gió quật ngã người. Cô nói đợi thêm. Mười hai giờ trưa, lúc con Ri ngồi bón cháo cho thằng Vững, cô ra mũi tàu ngồi xuống cạnh anh. Chú Mười Ốc đưa cho cô một chén cháo. Cô ăn được ba muỗng.
– Em hổng đi chuyến tàu chót. – Anh nói. Không phải câu hỏi.
– Không.
– Vì sao?
Cô nhìn ra miệng vũng, chỗ sóng đang đập trắng xóa.
– Vì tàu anh chưa về. – Cô nói. Rồi cô nói tiếp, chậm. – Mà không phải vì anh. Vì trên tàu anh có người bị thương. Anh hiểu không?
– Hiểu. – Anh nói. – Dị mới đúng.
Cô quay sang nhìn anh. Anh không nói thêm. Anh cầm lấy cái chén cháo trong tay cô, đút cho cô muỗng thứ tư.
Hai giờ chiều, mạch thằng Vững còn một trăm, môi nó đã hồng lại một chút, nó tỉnh, nó đòi ăn cháo.
– Giờ đi. – Cô nói. – Đi bây giờ mới kịp trước khi bão vô hẳn.
Ba giờ chiều, họ khiêng thằng Vững lên con đường mòn.
Sáu người khiêng, thay nhau. Lộng, thằng Lụi, thằng Tèo Bự, anh Bường, hai anh dân quân. Thằng Cò đi trước cầm đèn, bàn tay ba ngón nắm chặt cái cán đèn. Con Ri đi sát bên cáng, giữ tấm áo mưa phủ lên người thằng Vững. Cô đi bên kia, tay giơ chai dịch truyền lên cao, giơ suốt, giơ như đêm đầu tiên trên con tàu này, cái đêm cô vừa nôn vừa giơ chai dịch lên trời.
Mưa quất ngang. Gió trên sườn đồi không thổi từng cơn nữa mà thổi liên tục, một bức tường gió đẩy họ lùi lại. Đường mòn biến thành con suối đỏ quạch, bùn lún tới mắt cá. Có những bậc đá dân quân xếp hồi đầu năm giờ trơn như thoa mỡ. Có những đoạn họ phải đặt cáng xuống, hai người leo lên trước, hai người đẩy từ dưới, nhích từng tấc. Có một lần thằng Tèo Bự trượt chân, cái cáng chao nghiêng, Lộng chụp được cái quai, giữ lại, cổ tay anh nghe rắc một tiếng mà anh không có thời gian để đau.
Anh nghĩ tới ba anh. Ba mươi năm trước, sáng sớm, ba anh đi một mình trên con đường này, té ba lần, chân chảy máu, đi về một căn nhà mà người trong đó đã đắp chiếu.
Anh không đi một mình. Anh đi về một căn nhà có cái đèn đỏ.
Năm giờ rưỡi, trời đã tối như tám giờ. Họ còn cách đỉnh đèo chừng hai trăm mét, cái đoạn dốc nhất, gió mạnh nhất. Thằng Cò đi trước, chùm đèn pin của nó lắc lư, vô dụng trong màn mưa.
Rồi thằng Cò dừng lại.
– Anh Hai. – Nó la lên, át cả tiếng gió. – Anh Hai! Có đèn! Trên đỉnh có đèn!
Lộng ngẩng lên.
Trên đỉnh đèo, giữa màn mưa xám, có một đốm sáng vàng. Không phải đèn pin. Một cái đèn bão, loại đèn dầu có lồng kính mà hồi xưa nhà nào ở đảo cũng có một cái treo dưới mái hiên mùa mưa. Nó đứng yên, không chao, như được cắm xuống đất.
Họ leo lên. Từng bước. Đốm sáng lớn dần.
Dưới cái đèn bão là hai người. Chú Cang, áo mưa, ôm một tấm bạt. Và ba anh.
Ông Năm Thới đứng trên đỉnh đèo, cái chân phải cà nhắc chống trên một mỏm đá, tay trái chống gậy, tay phải giơ cao cái đèn bão. Áo mưa của ông rách một bên vai. Mưa xối xuống mặt ông, chảy ròng ròng xuống bộ râu lởm chởm. Ông đứng như một cây cột mốc.
Lộng không biết ba anh leo lên đây bằng cách nào. Cái chân đó, cái dốc đó, cái gió đó. Anh chỉ biết ông đang đứng đó.
– Ba…
– Đi đi. – Ông Thới nói. Ông không nhìn anh. Ông nhìn cái cáng, nhìn thằng Vững, nhìn con Ri, nhìn cô với cái chai dịch giơ cao. – Đi đi. Tao đứng đây soi đường. Xuống dốc bên kia có thằng Cang dẫn.
– Ba đi xuống với tụi con.
– Tao đứng đây. – Ông nói. Rồi ông quay sang nhìn con trai, và dưới cái đèn bão, Lộng thấy mặt ông ướt, không phải chỉ có mưa. – Hồi đó hổng có ai đứng đây. Tao đi về một mình. Giờ có tao đứng đây. Đi đi.
Lộng nhìn cha một giây. Rồi anh cúi xuống, nâng cái quai cáng lên.
Họ đi qua đỉnh đèo, đi xuống. Cái đèn bão vẫn đứng sau lưng họ, soi một vệt vàng xuống con dốc. Lộng không quay lại, nhưng anh biết nó còn đứng đó, vì mỗi lần anh trượt chân, chùm sáng vàng đó lại rọi đúng chỗ anh cần đặt chân.
Sáu giờ bốn mươi, họ xuống tới chân đồi. Xóm Bãi Nồm mất điện từ chiều. Nhà nào cũng tối om. Chỉ có một chỗ sáng.
Trên gò đất thấp sau xóm, cái đèn đỏ ngoài hiên trạm y tế sáng lên giữa bão, nhỏ xíu, run rẩy trên dây, như một con mắt không chịu nhắm.
Họ khiêng thằng Vững chạy qua sân trạm, lên ba bậc tam cấp.
Dưới cái đèn đỏ, trên băng ghế dài ngoài hiên, có một người ngồi. Ướt sũng. Không gậy. Hai tay nắm chặt vạt áo.
Cô Út Gấm đứng bật dậy khi thấy cái cáng.
— Hết chương 32 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe