Chương 34: Chờ gió
– Ba mươi tám độ hai. – Ông Quế nói.
Không có ai nói "dạ khớp".
Ông đứng trước cái lều trắng trong vườn khí tượng, cửa chớp mở, cúi xuống đọc nhiệt kế bằng mắt, như mười bốn năm nay. Ông ghi vào cái sổ bìa xanh treo trên vách lều, bằng bút chì. Rồi ông đứng đó thêm một lúc, chờ, như người ta chờ ai đó nói nốt câu. Cái hộp tự động màu xám dưới chân cột gió đã đọc rồi, đã gửi rồi. Nó không nói gì. Nó không biết nói.
Giữa tháng Năm. Gió Tây về từ cuối tháng Tư, đúng mùa, khô và nóng như hơi lò bánh mì thổi qua dãy núi phía tây tỉnh xuống tới biển. Ruộng mía đã chặt trơ gốc. Cánh đồng lúa phía tây nứt nẻ chân chim. Lò nấu đường dưới xóm đã tắt lửa, mùi mật mía không còn bay lên dốc nữa. Mỗi chiều, cả xã Sa Bình ngồi ngoài hiên quạt nan, không ai nói chuyện gì khác ngoài trời.
Không ai nói "chờ gió mùa". Gió mùa không phải chuyện của Sa Bình. Ruộng Sa Bình mưa mùa thu. Nhưng cả xóm biết anh Lành con bà Tám đang cấy thuê ở đồng bằng phía nam Nam Đô, và ruộng ở đó là ruộng mùa hè. Cả xóm biết ở bên kia biển có một cái cảng cá tên Bangka, một con sông tên Mahar, một đồi chè tên Kirega. Cả xóm biết con số ba tỷ người, và con số ba trăm hai mươi sáu nghìn cái làng như làng mình.
Nên cả xóm chờ.
Thằng Ốc chờ bằng cách lên trạm lúc mười hai giờ năm mươi lăm mỗi ngày.
Chị Vy cho nó mượn cái kính cũ của chị, loại chị dùng hồi sinh viên, còn chạy được. Nó đeo lệch trên mặt, to quá, phải lấy dây thun cột ra sau ót. Nó ngồi trên cái ghế xoay của ông Quế, chân giờ đã chạm đất, cạnh cái tủ xám nằm ở góc phòng trực dưới cái đồng hồ quả lắc, và chờ.
Mười ba giờ không phút, theo đồng hồ quả lắc là mười ba giờ bốn phút, gói Kênh Sáu Giờ của Mũi Cỏ Ngựa tới. Ngày nào cũng tới. Số liệu của cái hộp tự động, số quang phổ của cái máy ông Quế lau ngày hai bận. Cuối gói, một chữ.
"Chào."
Thằng Ốc đếm. Nó lấy một cuốn vở học trò, mỗi ngày ghi một dòng: ngày, giờ, có chữ "chào" hay không. Hai mươi mốt dòng. Hai mươi mốt chữ "có".
– Mi đếm làm chi? – Khởi hỏi, một bữa anh lên trạm mang cho ông Quế mấy con cá nục.
– Tép nói máy dự báo mà không đếm thì là máy nói dóc. – Thằng Ốc nói. – Tau đếm coi ông trên trời có nói dóc không.
– Rồi ổng có nói dóc không?
– Chưa.
Ngày mười tám tháng Năm, ba nó về.
Ông về bằng xe điện của căn cứ, xuống ở chân dốc như chị Vy hồi tháng Ba, vì bản đồ của xe vẫn chưa ai vẽ cái dốc. Ông vác một cái ba lô và một ống giấy dài. Trong ống giấy là một con diều.
Con diều màu vàng, hình con cá chuồn, hai cánh dang rộng, cái đuôi dài bằng ba người nối nhau. Ba thằng Ốc ngồi ráp nó suốt buổi tối ở hiên nhà bà Don, dưới ngọn đèn treo, tay to mà cẩn thận, buộc từng nút dây như người ta buộc máy thám không vào quả bóng.
Sáng hôm sau, hai cha con thả diều trên đỉnh Mũi Cỏ Ngựa. Gió Tây thổi mạnh, khô, con diều cá chuồn vọt lên, cái đuôi dài uốn éo trên nền trời xanh đục. Ông Quế đứng ở cửa phòng trực nhìn. Vy đứng ở vườn khí tượng nhìn.
– Ba ơi. Ở trên cao gió thổi hướng nào?
Ba nó ngửa cổ, nheo mắt nhìn con diều, nhìn cái đuôi.
– Ở dưới thì gió tây. Ở trên kia, chỗ con diều, gió hơi xoay về tây bắc. – Ông nói. – Coi cái đuôi nó chỉ đó.
Thằng Ốc nhìn cái đuôi. Rồi nó quay sang cái lều trắng trong vườn khí tượng, chỗ cái micro cũ đã tháo, chỉ còn cái lỗ vít trên mái lều.
– Tép, gió trên cao tây bắc. – Nó nói, không to.
Ba nó nhìn nó. Ông không hỏi gì. Ông chỉ nhả thêm dây cho con diều lên cao hơn.
Ngày hai mươi hai tháng Năm, cá chuồn về.
Khởi phát hiện. Rạng sáng, ghe Hai Thơm ra khơi được hai tiếng, trời vừa sáng, thì mặt biển phía trước mũi ghe xao lên một đám bạc. Rồi một con cá vọt lên khỏi mặt nước, dang hai cái vây như hai cái cánh, bay là là trên sóng chừng hai chục mét, rồi rơi xuống. Rồi con nữa. Rồi cả đàn. Một con đáp thẳng lên mui ghe, nằm giãy đành đạch.
Khởi đứng ở lái, cái nón lá quai dây dù xanh trên đầu, hét lên một tiếng không phải "gồng lên", không phải chữ gì hết.
Trưa, ở chợ Sa Bình, anh đổ một thúng cá chuồn xuống trước hàng don bà Don.
– Cá chuồn về rồi, bà Don.
Bà Don nhìn thúng cá. Bà không ngẩng lên.
– Trễ hai tháng.
– Dạ trễ hai tháng. Mà về.
– Cái thằng Tép nó nói "cá chuồn sắp về". – Bà nói, múc nước don ra tô. – Đó là đêm hai mươi bảy tháng Tư. Hai mươi lăm ngày mới về. Sắp cái chi mà sắp hai mươi lăm ngày.
– Thì sắp là sắp. – Khởi nói. – Nó không nói ngày.
Bà Don đặt tô don xuống trước mặt anh, rắc hành, rưới ớt.
– Ừ. – Bà nói. – Thì nó trúng.
Cả hàng bún bên cạnh nghe. Không ai cười.
Hoàng hôn bớt tím. Không nhiều. Vy đo bằng camera bầu trời của cái hộp tự động, chiều nào cũng đo. Đầu tháng Năm bốn mươi mốt phút, giữa tháng Năm ba mươi tám, cuối tháng Năm ba mươi sáu. Lớp hạt trên đầu họ không tan trong một tháng. Không có Đợt Hạ, nó chỉ rơi xuống từ từ, như bụi trên nóc tủ mà không ai lau, một năm, hai năm. Nhưng mỗi tuần nó mỏng đi một chút. Vy ghi vào một cái sổ bìa xanh mới mà ông Quế đưa cô, bằng bút chì.
Thiên Đỉnh đã cân lại đồng hồ của Chuẩn Một từ sáng hai mươi bảy tháng Tư. Giờ nó dự báo gió mùa mùa hè sẽ về vùng phương nam trễ chừng mười hai ngày, yếu hơn bình thường một chút, nhưng về. Bản dự báo hiện trên cổ tay của mọi người. Người ta đọc. Người ta chờ.
Tối hai mươi lăm, công văn của Trung tâm tới. Không có ai đọc nó bằng giọng bản tin. Vy đọc to, ngoài hiên, dưới ngọn đèn vàng, cho ông Quế nằm trên võng nghe.
Theo đề nghị của Hội đồng Giám sát về mạng lưới trạm neo mặt đất, Trạm Khí tượng Mũi Cỏ Ngựa không chuyển sang tự động hoàn toàn. Trạm tiếp tục có người. Trung tâm sẽ bổ nhiệm trạm trưởng mới. Trạm trưởng Hồ Sĩ Quế nghỉ hưu theo chế độ kể từ ngày bàn giao.
Cái võng đung đưa một chút rồi đứng yên.
– Rứa là tau vẫn về hưu. – Ông Quế nói.
– Dạ. Bác sáu mươi ba rồi.
– Ừ. – Ông nói. – Người ta cử đứa nào về?
Vy không trả lời ngay. Cô gấp cái kính lại, đặt lên bàn, cạnh ấm trà.
– Cháu làm đơn rồi, bác ạ. Chiều nay. Chị Hằng ký.
Ông Quế ngồi dậy trên võng. Ông nhìn cô rất lâu, như cái nhìn hôm cô mới tới, ống quần dính đất đỏ, xách cái va li lên dốc.
– Con nghĩ kỹ chưa? – Ông hỏi. – Ở đây không có máy lạnh mỗi khi cúp điện. Xe bỏ con dưới chân dốc. Bản đồ quên vẽ cái dốc mười năm chưa ai sửa. Mỗi sáng sáu giờ phải lau kính, chiều bốn giờ lau lần nữa, bút chì, không bút bi.
– Dạ cháu biết.
– Một năm được ba bốn buổi sáng trời trong để kiểm Langley.
– Dạ.
– Tháng Mười bão. Đêm nào cũng phải đọc bản tin biển cho ghe.
– Cháu đọc dở. – Vy nói. – Bà Don chê. Nhưng cháu đọc.
Ông Quế nằm xuống võng lại. Ông nhìn lên mái hiên. Dưới xóm, có tiếng ai đó gọi con về ăn cơm.
– Ừ. – Ông nói. – Chê thì cứ chê.
Ngày hai mươi tám tháng Năm, thứ Bảy.
Sáng hôm đó, ở chợ Sa Bình, bà Tám tạp hóa đang xếp mì gói lên kệ thì cái cổ tay bà rung. Bà nhìn cái tên. Bà bấm nhận, bật cả hình, giơ cái cổ tay lên cao, để giữa chợ.
Hình anh Lành hiện lên. Anh đứng giữa một cánh đồng xanh rì, mặt mũi ướt nhẹp, tóc dính bết vào trán, áo dính vào người. Sau lưng anh, trời xám đen, mưa trút xuống trắng xóa, nghe rõ tiếng mưa rào rào qua cái cổ tay.
– Má! – Anh hét, át tiếng mưa. – Mưa rồi má ơi! Mưa từ khuya tới giờ! Ruộng ngập tới gối!
Cả chợ Sa Bình đứng lại. Bà Don ngẩng lên khỏi nồi don. Cô Thơm đứng dậy khỏi mẹt cá. Ông Bảy Mắt Kính bước ra khỏi tiệm, đẩy kính lên trán.
Trưa đó, các gói trên Kênh Sáu Giờ tới. Bà Rahima viết: chưa mưa ở sông Mahar, nhưng mây đã đùn lên ở phía nam, đen, thấp, mùi đất ướt từ xa thổi tới. "Sông bớt xanh rồi", bà viết. Wanjiru gửi tấm hình đồi chè sau cơn mưa dài, xanh tới mức nhức mắt. Ông Danilo nói gió mùa về cảng Bangka từ ba hôm trước, ghe ra biển lại, cá ngừ năm nay nhỏ con nhưng nhiều.
Vy đọc từng gói cho ông Quế nghe. Không có ai dịch. Vy tự dịch, chậm, có chữ phải tra.
Chiều, có một tin nhắn từ đảo Gành Yến. Ông Cảnh nhắn ngắn, như mọi lần.
"Chuồn chuồn bay thấp."
Ông Quế đọc. Rồi ông đi ra hiên, ngửa mặt nhìn trời. Trời trên Mũi Cỏ Ngựa vẫn khô, vẫn xanh nhạt hơi đục, gió Tây vẫn thổi. Không có mây. Ruộng Sa Bình mưa mùa thu.
– Sáu phần mười. – Ông nói, không với ai.
Vy đứng sau lưng ông.
– Bác nói gì ạ?
– Chuồn chuồn bay thấp thì mưa. – Ông Quế nói. – Thằng Tép nói câu đó trúng sáu phần mười.
Tối đó, Vy nhận một cuộc gọi. Toàn. Anh đứng trong một căn phòng lớn, tối, đầy kệ sắt, sau lưng là những thùng gỗ, thùng các-tông xếp tới trần.
– Chị Vy. Tôi đang ở kho khu vực Vọng Hải. – Anh nói. – Mục ba mươi mốt. Vật tư tồn kho. Tôi đi kiểm, theo danh mục.
– Có gì à?
– Có một thứ không có trong danh mục. – Toàn nói. – Một cái hộp nhỏ, niêm phong từ năm 2041. Trên nhãn ghi: TKV-3, bản cài gốc.
— Hết chương 34 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe