Chương 17: Mười hai giờ trưa ở Mũi Cỏ Ngựa
– Năm. – Ông Quế viết. – Sáu.
Sáng thứ Hai, mười một tháng Tư, Kifaru gửi số. Wanjiru thả hai quả bóng ủ trong lò sấy chè, cách nhau sáu tiếng, một lúc rạng sáng, một lúc trưa. Cả hai lên quá hai mươi tám cây số. Lớp bụi trên cao nguyên Kirega dày gấp một phẩy bảy mươi bốn và một phẩy bảy mươi sáu lần số chính thức. Kèm theo số liệu là một tấm hình: mười mấy người hái chè, đàn ông đàn bà con nít, đứng trên một sườn đồi xanh, ngửa cổ nhìn lên một chấm trắng trên trời. Có người còn đeo gùi chè sau lưng. Cắm trên nóc cái lều khí tượng trắng phía sau họ là một nhánh lá xanh.
– Nhánh quế. – Tép nói. – Wanjiru nói cô đã ra cuối đồi hái.
Ông Quế nhìn tấm hình rất lâu. Rồi ông viết con số năm, con số sáu lên tấm bản đồ, nét phấn đậm hơn mọi lần.
Châu Phi. Châu thứ ba.
Buổi trưa, trường Cóndor gửi số. Cô giáo Inés và hai mươi bảy học trò lớp năm thả hai quả bóng ủ trong bếp nấu súp, trên sân trường giữa núi, ở độ cao ba nghìn tám trăm mét. Một quả nổ ở hai mươi bốn cây số, một quả ở ba mươi. Cả hai đều qua lớp bụi. Cô Inés gửi kèm một đoạn ghi âm: tiếng hai mươi bảy đứa trẻ đếm ngược bằng thứ tiếng của chúng, rồi tiếng reo, rồi tiếng một đứa con gái hỏi gì đó, cô giáo trả lời, cả lớp cười.
– Con nhỏ hỏi gì vậy Tép? – Thằng Ốc hỏi. Nó trốn học tiết cuối, chạy lên trạm, ngồi trên ghế xoay của ông Quế.
– Con nhỏ hỏi: ở bên kia quả đất, cái trạm gửi bóng cho mình có con nít không. – Tép dịch. – Cô giáo nói có, có một bạn mười hai tuổi tên Ốc.
Thằng Ốc đỏ mặt tới mang tai.
– Mi nói tên tau cho tụi nó hả?
– Dạ không. Chị Vy nói. Chị Vy viết thư cảm ơn, kể về Ốc buông máy thám không.
Thằng Ốc quay sang nhìn Vy. Vy làm bộ đọc kính.
Bảy. Tám. Nam Mỹ. Châu thứ tư.
Chiều thứ Hai, Đèo Gió gửi số. Anh Thạch, người giữ trạm, thả quả bóng duy nhất lúc ba giờ chiều, ủ trong cái chăn điện của vợ anh. Chín. Tối thứ Hai, câu lạc bộ đại học trên thảo nguyên phương bắc gửi số. Bốn quả, ủ trong một căn lều nỉ có lò sưởi đốt phân khô, ba quả lên tới tầng bình lưu, một quả nổ ở mười hai cây số. Mười, mười một, mười hai.
Sáng thứ Ba, Mulga gửi số. Ông Doug viết đúng bốn chữ: "Lên ba mươi. Một phẩy bảy." Mười ba. Châu Đại Dương. Châu thứ năm.
Ông Quế đặt cục phấn xuống, đứng nhìn tấm bản đồ. Năm châu. Mười ba điểm. Còn sáu ngày.
– Đủ năm châu rồi. – Vy nói, giọng nhỏ, như sợ nói to thì nó biến mất. – Bác ơi, đủ năm châu rồi.
– Chưa đủ ba mươi. – Ông Quế nói. Nhưng ông không đứng thẳng như mọi khi. Ông dựa vào cạnh bàn, như người vừa đi một đoạn dốc dài.
Và rồi những trạm mới bắt đầu tới.
Không ai mời họ. Họ đọc được trên Kênh Sáu Giờ. Có trạm đọc được vì có người ở trạm cũ chuyển tiếp. Có trạm đọc được vì một AI cũ ở trạm bên cạnh nói cho nó nghe. Một đài thiên văn nhỏ trên một ngọn núi ở sa mạc ven biển phía tây châu Phi có ba quả bóng từ hồi đo bụi cát. Một nhóm người chơi thả bóng nghiệp dư ở mũi cực nam của Nam Mỹ, toàn ông già về hưu, có bảy quả bóng mới mua và chưa bao giờ thả cao quá hai mươi cây số. Một trạm hải dương trên một hòn đảo giữa biển lớn phía nam. Một trạm khí tượng trên một cái đèo cao ở miền núi phía tây của một nước nào đó mà Tép phải tra mới biết tên. Một trạm trên đảo nhỏ phía bắc châu Âu, gần Hrafn, nghe ông Einar kể chuyện qua điện thoại.
Thứ Ba, tấm bản đồ lật ngược đã hết chỗ. Ông Quế lật tấm bản đồ thứ hai, tấm bản đồ đất liền, đóng lên cạnh tấm thứ nhất.
Chiều thứ Ba, có chuyện vui ở Bến Đá.
Cô Huyền ở bưu cục lấy chồng. Chồng cô là thằng Lực, con trai út nhà ông Tư Râu, cái nhà có máy phát điện chạy dầu. Đám cưới làm ngoài bãi biển, chiều thứ Ba, vì hôm đó là ngày thầy coi ngày chọn. Cả xóm phụ dựng rạp từ sáng. Trưa, mẹ cô Huyền lên trạm.
– Ông Quế ơi, cái thằng Tép có báo riêng cho đám cưới được không? – Bà hỏi, đứng ở cửa phòng trực, tay cầm cái nón. – Trên cổ tay thằng Lực, ông Thiên Đỉnh nói chiều nay có mưa rào lúc năm giờ. Mà rạp làm ngoài bãi, mưa thì ướt hết đồ cúng.
Ông Quế nhìn cái loa.
– Mi báo được không?
– Dạ được, ông trạm. – Tép nói. – Tép chưa bao giờ báo cho đám cưới. Nhưng Tép báo được.
Nó im ba giây. Mẹ cô Huyền đứng nín thở.
– Thưa bà, đây là bản tin riêng cho đám cưới cô Huyền với anh Lực. – Tép đọc, đúng giọng bản tin. – Chiều nay ở bãi Bến Đá, trời nhiều mây, nhưng không mưa. Mây rào mà ông Thiên Đỉnh thấy là mây ở phía núi, cách bờ mười hai cây số, gió nồm đẩy nó về phía tây, không vô bờ. Gió nồm từ bốn giờ chiều, ba mét một giây, mát, cột rạp cho chắc. Sóng nhỏ. Sáu giờ chiều có hoàng hôn tím, chụp hình đẹp. Cô dâu đừng đi giày cao gót xuống cát. Rứa thôi. Nhớ đem nón.
Mẹ cô Huyền cười, che miệng.
– Đám cưới ai mà đem nón.
– Dạ, Tép nói theo thói quen, bà bỏ câu đó đi.
Năm giờ chiều, trên bãi Bến Đá, trời nhiều mây mà không mưa. Mây đen đùn lên ở phía núi, rồi trôi đi. Gió nồm thổi mát, cờ phướn trên rạp bay phần phật. Có người đứng giữa rạp giơ cổ tay lên, thấy dự báo của Thiên Đỉnh vẫn hiện "mưa rào", rồi ngước lên trời, rồi cười ha hả. Tiếng cười chạy dọc mấy dãy bàn tiệc.
Vy xuống dự đám cưới. Bà Don kéo cô xuống, nói khách trên trạm thì cũng là khách của xóm. Cô ngồi bàn với bà Don, cô Thơm, Khởi, thằng Ốc, ăn gỏi cá, ăn gà luộc, uống nước dừa. Cô không biết hát, nhưng khi người ta kéo cô lên hát một bài thì cô hát một bài thiếu nhi, bài duy nhất cô thuộc lời, và cả xóm vỗ tay rầm rầm vì cô hát sai nhịp. Thằng Ốc cười lăn lóc dưới gầm bàn.
Sáu giờ, hoàng hôn tím. Đúng như Tép báo. Người ta chụp hình cô dâu chú rể trước nền trời tím hồng. Cô Huyền cởi giày cao gót, đi chân đất trên cát.
Ông Quế không xuống. Ông nói ông già rồi, ồn ào không chịu nổi. Nhưng lúc tám giờ, khi Vy quay lên trạm, cô thấy ông ngồi ngoài hiên, nhìn xuống bãi biển nơi ánh đèn tiệc còn sáng, nhịp chân theo tiếng nhạc vọng lên.
Thứ Tư, mười ba tháng Tư. Hai mươi hai điểm vào buổi sáng. Hai mươi bốn lúc mười một giờ.
Mười hai giờ trưa, theo đồng hồ quả lắc là mười hai giờ, theo giờ thật là mười một giờ năm mươi sáu, cái đồng hồ gõ mười hai tiếng. Ông Quế đang ngồi ăn cơm với Vy, cơm trắng với cá cơm kho và canh bầu nấu tôm. Ông đặt đũa xuống, ngồi nghe cho hết mười hai tiếng gõ.
– Bác ơi. – Vy nói, khi tiếng gõ cuối cùng tắt. – Cháu hỏi bác chuyện cái đồng hồ được không ạ?
Ông Quế nhìn cô. Rồi ông nhìn cái đồng hồ.
– Năm 2047 tui về đây. – Ông nói. – Tui không muốn về. Người ta đẩy tui về. Tui với bà Huệ dọn đồ từ Viện, chở một xe tải, đi ba ngày. Tới nơi, cái trạm ni điện lưới chập chờn, không có nước máy, mái dột. Tui nằm một tuần không dậy.
Vy im.
– Nằm tới nỗi trễ giờ quan trắc sáu giờ sáng. Hai lần. – Ông nói. – Trạm trưởng mà trễ giờ quan trắc là chuyện lớn. Ghi vô sổ, gửi lên. Bà Huệ không nói gì. Một bữa tui dậy thấy bả đang đứng trên cái ghế, vặn cái kim đồng hồ ni. Tui hỏi bả làm chi. Bả nói: em vặn nhanh bốn phút. Anh tưởng sáu giờ thì thật ra mới năm giờ năm mươi sáu. Bốn phút là đủ cho anh mang dép, đi ra vườn.
Ông cười. Lần đầu tiên Vy thấy ông cười như vậy, cười không tiếng, cả khuôn mặt nhăn lại.
– Mười bốn năm, tui chưa trễ bữa mô.
– Rồi khi bác gái mất…
– Năm năm mươi lăm. – Ông nói. – Bả bệnh hai tháng. Lúc bả nằm viện, tui về trạm, ngó cái đồng hồ, định vặn lại cho đúng. Tay tui để lên kim rồi mà không vặn được. Tui nghĩ: sửa thì nó đúng. Mà nó đúng thì nó không còn là của bả.
Vy cúi xuống. Cô không muốn ông thấy mắt cô.
– Tui biết nó sai. – Ông Quế nói. – Biết nó sai thì trừ ra. Có chi mô.
Ông cầm đũa lên, gắp một con cá cơm bỏ vào chén cô.
– Ăn đi con. Nguội.
Vy ngẩng lên. Ông đã cúi xuống ăn tiếp, như không biết mình vừa gọi cô bằng chữ gì. Cô cầm đũa, ăn con cá cơm, mặn, ngọt, hơi đắng.
Mười hai giờ rưỡi, hai mươi sáu điểm. Ông Quế viết hai con số cuối lên tấm bản đồ thứ hai. Hai mươi lăm: đài thiên văn trên núi sa mạc. Hai mươi sáu: nhóm ông già ở mũi cực nam, quả thứ ba của họ lên tới ba mươi cây số, lần đầu tiên trong đời họ.
Vy đếm lại theo châu. Châu Á mười ba. Châu Âu bốn. Châu Phi ba. Nam Mỹ bốn. Châu Đại Dương hai. Hai mươi sáu. Còn bốn điểm. Còn năm ngày tới ngày mười tám. Còn ba quả bóng trong kho, ba lần heli.
– Mai mình thả một quả. – Ông Quế nói. – Mốt thả một quả. Để một quả dự phòng. Ở chỗ khác chắc còn người.
– Bangka còn một quả. – Tép nói. – Sapla còn hai quả. Hrafn còn quả dự phòng mình gửi.
– Đủ. – Ông Quế nói.
Lần đầu tiên ông nói chữ đó. Vy nghe mà thấy lạnh gáy, không biết vì sao.
Rồi tới mười ba giờ, giờ Kênh Sáu Giờ. Tép gửi gói của mình, như mọi ngày. Và như mọi ngày từ gần ba tuần nay, nó đợi các gói khác tới. Bangka tới. Hrafn tới. Cóndor tới. Mulga tới. Đèo Gió tới.
Kifaru không tới.
– Có thể Wanjiru bận. – Vy nói. – Mùa hái chè.
– Dạ. Có thể. – Tép nói. – Nhưng từ hôm trả lời mình, Kifaru chưa trễ gói nào. Và đây không phải Wanjiru gửi, đây là Kifaru tự gửi. Kifaru là máy. Máy không bận.
Họ đợi. Một giờ chiều. Hai giờ. Ba giờ.
Bốn giờ, ông Quế ra vườn lau kính. Lúc ông quay vào, Tép lên tiếng trước khi ông kịp hỏi.
– Ông trạm. Sapla cũng không gửi gói.
Ông Quế đứng sững ở cửa phòng trực, tay cầm cái khăn lau kính.
– Sapla cũng không gửi. – Tép nói lại. – Hai trạm. Cùng một ngày.
— Hết chương 17 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe