Chương 11: Những trạm bị quên
– Còn.
Đó là chữ duy nhất trong gói trả lời lúc chín giờ mười bảy tối thứ Năm. Tép đọc nó bằng tiếng mình, rồi đọc cả phần đầu gói, phần mà các trạm xưa nay vẫn ghi để người ta biết mình là ai: tên trạm, tọa độ, độ cao, năm lắp đặt.
– Trạm Hrafn. Một hòn đảo ở biển phương bắc, nước Norrøy. Sáu mươi tư độ vĩ bắc. Độ cao ba mươi mốt mét. Lắp năm 2039. Hệ thống thế hệ hai.
– Thế hệ hai? – Vy hỏi. – Già hơn bạn.
– Dạ. Hai năm. – Tép nói. – Tép không biết nó còn sống.
Ông Quế chống tay lên bàn.
– Mi hỏi nó còn bao nhiêu.
Tép gửi. Câu trả lời tới lúc mười giờ đêm, khi bên đó chắc đang là chiều.
– Bốn quả. Heli đủ ba. Người giữ trạm tên Einar, bảy mươi tư tuổi. Ông ấy nói: lần cuối thả bóng ở đây là năm 2051. Ông ấy vẫn giữ bóng vì không ai đến lấy về. Ông ấy hỏi: các bạn có chắc không?
– Nói nó, – ông Quế nói, – một quả của tau đi lên ba mươi mốt cây số, đếm bụi bằng tay. Gấp một phẩy tám. Tau không chắc cái chi hết, ngoài cái đó.
Tép gửi. Hrafn không trả lời nữa đêm đó.
Nhưng sáng thứ Sáu, khi Vy xuống phòng trực lúc sáu giờ, cái loa đã kêu tách bốn lần.
– Bốn trạm, cô kỹ sư. – Tép báo, giọng nhanh như đứa nhỏ báo tin mẹ về. – Đêm qua có bốn trạm trả lời. Bangka. Một trạm tên Sapla. Một trạm tên Kifaru. Và Hrafn gửi thêm một gói.
Vy ngồi xuống, chưa kịp pha cà phê.
– Đọc từng trạm.
Từ sáng thứ Sáu tới tối Chủ nhật, phòng trực của trạm Mũi Cỏ Ngựa thành một cái bưu điện.
Gói đến lúc nửa đêm, lúc ba giờ sáng, lúc trưa. Các trạm ở bên kia quả đất gửi theo giờ của họ, nên Tép không ngủ, mà Tép thì vốn không ngủ. Mỗi gói đến, nó đọc tên trạm, đọc phần đầu, rồi dịch. Vy ghi vào một bảng trong kính. Ông Quế ghi bằng phấn lên tấm bản đồ lật ngược, mỗi trạm một dòng.
Gói nào cũng mở đầu bằng một câu chào theo lề lối cũ của kênh, thứ lề lối được đặt ra từ hồi máy đánh chữ, khi các trạm còn gửi điện bằng mã. Câu chào dài lê thê: kính gửi các trạm trong mạng lưới, trạm này xin báo cáo quan trắc ngày này giờ này, trân trọng. Rồi mới tới chuyện chính. Có trạm còn kết thúc bằng câu chúc thời tiết tốt.
– Mấy cái máy ni nói chuyện y như mấy ông già ngồi quán nước. – Ông Quế nói, lần thứ ba nghe Tép đọc trọn một câu chào.
– Dạ. Tép cũng chào rứa. – Tép nói. – Tép chỉ bỏ bớt. Ông trạm không cho Tép chào dài.
– Tau nghe mi chào dài thì tau ngủ mất.
Bangka nói nhiều nhất. Cái AI ở cảng cá quần đảo Sila viết những gói dài, đầy chi tiết, kể chuyện cảng: hôm nay ghe nào về, ghe nào hư máy, cá ngừ năm nay nhỏ con. Người giữ trạm là ông Danilo bảy mươi tuổi, đã nghỉ hưu ba lần mà không nghỉ được vì không ai thay. Bangka còn hai quả bóng, nhưng không có máy thu. Máy thu của nó bị cắt bán phụ tùng năm 2057.
– Mua máy thu ở đâu bây giờ? – Vy hỏi.
– Bangka nói ông Danilo có một đứa cháu làm ở tiệm sửa điện tử. – Tép dịch. – Đứa cháu nói nó lắp được, nếu ai gửi sơ đồ.
– Mình có sơ đồ không?
– Dạ có. Sơ đồ máy thu của trạm mình nằm trong kho tài liệu của Tép. Cùng một loại.
Vy gửi sơ đồ đi lúc mười giờ sáng thứ Sáu. Ba giờ chiều, Bangka gửi lại một tấm ảnh chụp: một cái bàn gỗ, một mớ linh kiện, một bàn tay người trẻ cầm cây mỏ hàn. Cạnh đó là một tờ giấy ghi bằng bút bi một chữ "OK", vẽ thêm hình mặt cười.
Sapla viết khác. Cái AI ở trạm cảnh báo lũ trên đồng bằng sông Mahar của nước Sundar viết những câu ngắn, buồn, như thơ. "Mùa lũ năm ngoái về muộn mười chín ngày. Mùa lũ năm nay tôi chưa thấy dấu hiệu. Người giữ trạm của tôi là bà Rahima. Bà nói sông năm nay xanh quá. Sông xanh là sông đói." Sapla có ba quả bóng và một bình heli còn đầy, từ hồi trạm còn thả bóng đo gió trước mùa lũ. Bà Rahima sáu mươi sáu tuổi, đã thả bóng hơn ba trăm lần trong đời.
– Ba trăm lần. – Ông Quế lẩm bẩm. – Hơn tui.
Kifaru là trạm thời tiết của một hợp tác xã trồng chè trên cao nguyên Kirega, châu Phi. Người giữ trạm là một cô gái mười chín tuổi tên Wanjiru, cháu nội người lập trạm. Ông nội cô mất năm ngoái, để lại cái trạm, cái máy dự báo cũ và một món nợ tiền điện. Kifaru có máy thu, có heli, nhưng không có bóng.
– Không có bóng mà có heli? – Khởi hỏi. Anh lên trạm từ trưa thứ Bảy, ngồi ở góc phòng trực, vừa vá lưới vừa nghe.
– Heli để bơm bóng bay cho các đám cưới trong hợp tác xã. – Tép dịch. – Wanjiru nói ông nội cô làm thêm nghề đó để có tiền trả điện cho trạm.
Khởi cười lớn, rồi tắt ngang. Anh nhìn xuống tấm lưới trong tay.
– Rứa cũng là gồng.
Thứ Bảy còn có thêm trạm trả lời. Một cái trường tiểu học trên dãy núi Cordal, Nam Mỹ, có một hệ thống tên Cóndor mà các thầy cô dùng để dạy học trò đo thời tiết. Cô giáo Inés viết: trường có máy thu, có ăng-ten, học trò của cô biết đọc tín hiệu máy thám không vì năm nào cũng làm bài thực hành bằng một cái máy giả. Nhưng trường chưa bao giờ có một quả bóng thật. Một trạm bơm nước ở vùng hoang mạc đỏ của nước Karrawa, lục địa phía nam, có hệ thống tên Mulga và một người tên Doug, năm mươi tám tuổi, sửa máy bơm. Doug viết ngắn gọn: "Có máy thu. Có heli. Không có bóng. Có ai bán không?"
Và Đèo Gió. Một trạm khí tượng trên miền núi phía bắc Nam Phong, chính nước mình, hệ thống tên Sương, cùng thế hệ với Tép. Sương còn một quả bóng.
– Một quả. – Ông Quế nói. – Mà là người nhà.
– Dạ. – Tép nói. – Sương nói Sương nghe Tép chào mỗi ngày trên Kênh Sáu Giờ suốt mười năm, nhưng không dám trả lời, tại Sương bị dặn chỉ gửi số, không gửi chữ.
Vy ngừng ghi. Cô nhìn cái loa.
– Bạn có buồn không? Mười năm nó nghe mà không nói?
Tép im hai giây.
– Không, cô kỹ sư. Tép mừng là nó nghe.
Tối thứ Bảy, Ốc gọi điện cho ba.
Nó ngồi ở bậc thềm trạm, ngoài hiên, lúc tám giờ, khi ông Quế và Vy còn đang ở trong phòng trực với cái bảng. Nó bấm cổ tay, hình ba nó hiện lên lơ lửng trước mặt, cỡ hai bàn tay. Ba nó ngồi trong một căn phòng nhỏ có giường tầng, sau lưng là cái tủ sắt và một cửa sổ tối. Ba nó mặc áo thun xám của căn cứ, tóc cắt ngắn, mắt thâm.
– Ốc hả con. Ba vừa hết ca. Nội khỏe không?
– Dạ nội khỏe. Ba ăn cơm chưa?
– Ba ăn rồi. Bữa ni con ở đâu mà tối vậy?
– Dạ con ở trên trạm ông Quế.
Ba nó cười.
– Lại lên trạm. Cái máy dự báo của con còn đó không?
– Dạ còn. Ba… – Ốc ngập ngừng. – Ba ơi, mây trên núi chỗ ba có bị sao không?
– Mây nào con?
– Mây mà ba làm đó. Ba nói ba ngồi coi máy bay đi rải mây.
– À. – Ba nó gãi đầu. – Không phải mây đâu con. Là hạt phản quang. Ba nói mây cho con dễ hiểu. Hạt đó bay lên cao thì che bớt nắng, cho trời khỏi nóng. Mà sao con hỏi?
– Thứ Hai đầu tuần ông Quế thả bóng thám không. Con buông cái máy. Nó bay lên ba mươi mốt cây số, đếm bụi. Tép nói bụi trên trời dày gấp một phẩy tám lần người ta nói.
Ba nó không cười nữa. Hình ba nó đứng yên trong không khí, chỉ có mắt chớp.
– Ai nói con vậy?
– Tép nói. Chị kỹ sư cũng nói. Ông Quế cũng nói. Mà con thấy, ba. Lúc mặt trời chưa lên, quả bóng ở trên cao sáng như cái đèn, rồi nó tắt.
Ba nó im lâu. Ốc tưởng mất sóng, lắc cổ tay.
– Ba?
– Ba đây. – Ba nó nói, giọng khác. – Ốc, con nghe ba. Chuyện này con đừng kể với ai nghe chưa. Đừng kể ở trường, đừng kể với bạn. Chuyện của người lớn.
– Răng rứa ba?
– Không có răng rứa chi hết. Con nghe lời ba.
– Dạ.
– Tháng sau ba về. Ba mua cho con cái diều mới.
– Dạ.
Hình ba nó tắt. Ốc ngồi trên bậc thềm, nhìn ra biển tối. Ngọn đèn đỏ trên tháp ăng-ten nháy trên đầu nó. Nó lấy cái bộ đàm trong túi ra, bấm nút.
– Tép.
– Tép nghe.
– Ba tau nói đừng kể với ai.
Tép im.
– Ba Ốc nói vậy là vì thương Ốc. – Cuối cùng nó nói. – Người lớn sợ thì hay dặn con nít đừng kể.
– Ba tau sợ cái chi?
– Tép không biết. Tép không biết ba Ốc làm cụ thể việc gì trên căn cứ. Ốc có biết không?
– Ba ngồi coi máy bay. – Ốc nói. – Ba nói rứa từ hồi tau học lớp một.
Tép không hỏi thêm.
Chủ nhật, cả trạm làm việc tới khuya. Tấm bản đồ lật ngược đã kín chữ phấn. Ông Quế đứng nhìn nó, tay chống hông, như người nông dân nhìn đám ruộng vừa cấy xong.
Mũi Cỏ Ngựa: mười một bóng, heli năm lần thả. Hrafn: bốn bóng, heli ba lần. Bangka: hai bóng, máy thu đang lắp. Sapla: ba bóng, heli đủ. Đèo Gió: một bóng. Một câu lạc bộ thả bóng của một trường đại học trên một thảo nguyên phương bắc, viết thư tới lúc chiều Chủ nhật, có bốn bóng, chưa từng thả lên quá hai mươi cây số. Kifaru, Cóndor, Mulga: có người, có máy thu, có heli, không có bóng.
– Nếu ai cũng thả hết thì được bao nhiêu? – Khởi hỏi.
Vy cộng.
– Mười tám lần đo, nếu không quả nào hỏng. Nhưng gần hết ở cùng một châu. Một trạm ở châu Âu. Còn châu Phi, Nam Mỹ, châu Đại Dương thì chưa có một quả nào.
– Mà có người chờ ở đó. – Ông Quế nói, gõ phấn lên ba cái tên Kifaru, Cóndor, Mulga. – Có người, không có bóng.
Ông quay sang nhìn về phía cửa sau, phía nhà kho. Ông không nói gì.
Mười một giờ đêm Chủ nhật, Tép nhận thêm một gói từ Kifaru. Wanjiru viết dài, lần đầu tiên. Tép đọc chậm.
– Tôi xin lỗi vì nói thẳng. Tôi muốn giúp các bạn. Nhưng tôi cần nói một điều. Trạm của tôi sẽ bị cắt điện vào thứ Sáu tuần sau, nếu không ai trả tiền điện. Tôi đã bán hết bóng bay đám cưới. Tôi không còn gì để bán. Nếu tới thứ Sáu tôi không trả được, Kifaru sẽ tắt, và tôi không biết khi nào mới mở lại được.
— Hết chương 11 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe