Chương 22: Những người không phải trạm
– Tôi tên Teodoro. Bảy mươi mốt tuổi. Lái máy bay chở thư bốn mươi năm, giờ lái xe đi nhặt bóng thám không rơi.
Giọng ông già vang lên từ cái loa con trên nóc tủ, qua bản dịch của Tép, mà Tép vẫn cố giữ cái nhịp chậm rãi, khàn khàn của người nói. Sáng thứ Ba, mười chín tháng Tư. Ông Quế ngồi trên bậc cửa phòng máy, ly trà trong tay. Khởi ngồi xổm dưới đất vá cái buồm thủng. Thằng Phát gục đầu bên cái máy thu, hàn một mối dây.
– Ở chỗ chúng tôi, mũi cực nam, có một cái hội. – Tép dịch tiếp. – Hội những người săn bóng thám không. Hồi các nước còn thả bóng, chúng tôi đi nhặt những cái máy rơi xuống đồng, xuống rừng, đem trả, hoặc giữ chơi. Hội có hai nghìn người, ở bốn mươi nước. Bây giờ không còn ai thả bóng để nhặt, chúng tôi thả cho nhau nhặt. Ông già như tôi thì có thời gian.
– Hỏi ông ta muốn chi. – Ông Quế nói.
– Ông Teodoro nói: hôm thứ Năm có người gọi ông lên làm việc về chuyện thả vật thể bay không phép. Ông có giấy phép từ ba mươi năm nay, ông đưa ra, người ta xin lỗi rồi cho về. Ông về nhà, ông nghĩ: ai gọi điện báo mình? Rồi ông đọc Kênh Sáu Giờ. – Tép ngừng. – Ông nói: tôi không thích bị người ta ghi tên vào một danh sách mà tôi không biết. Tôi muốn ghi tên mình vào một danh sách mà tôi biết.
Khởi ngẩng lên khỏi tấm buồm.
– Ông già đó nói chuyện nghe được.
Ông Quế không nói gì. Nhưng ông đặt ly trà xuống.
Chín giờ, Vy gọi từ Vĩnh An. Cô nghe Tép đọc lại lời ông Teodoro, rồi im một lúc lâu.
– Bác ơi. – Cô nói. – Nhóm ông Teodoro tới sau hôm Chủ nhật anh Hiển xin danh sách. Không có trong bảng. Nhưng tối thứ Ba tuần trước, cháu gửi anh ấy một bảng cập nhật, mười ba điểm đã đo với mấy trạm mới xin vào, cho anh ấy nắm. Nhóm ông Teodoro có trong đó.
– Ừ.
– Cháu lại gửi.
– Lúc đó con chưa biết. – Ông Quế nói. – Chừ con biết. Từ chừ đừng gửi ai nữa.
– Dạ.
– Danh sách lần ni Tép giữ. – Tép nói. – Không gửi ai. Tép không có tay để gửi nhầm.
Tới trưa, ông Teodoro gửi lời kêu gọi của mình cho cả hội. Không qua Kênh Sáu Giờ, qua cái bản tin hằng tháng của hội, thứ bản tin có mục rao bán ống nhòm cũ và mục chia buồn hội viên qua đời. Ông viết ngắn: một trạm khí tượng cũ ở bên kia quả đất cần ba mươi lần đo bằng bóng tới tầng bình lưu, trong bảy ngày tới. Ai có bóng, có heli, có máy thu, có cái đầu đếm hạt tự ráp mà hội làm hồi đo tro núi lửa mười mấy năm trước, thì viết cho Mũi Cỏ Ngựa. Đừng viết cho chính quyền. Đừng viết cho báo. Viết cho cái máy.
Bốn giờ chiều, có hai mươi ba lá thư. Tám giờ tối, sáu mươi mốt.
Tép đọc hết. Không dịch hết, vì ông Quế không nghe nổi. Nó chỉ đọc tên, nước, rồi ba con số: bóng loại gì, heli bao nhiêu, đầu đếm hạt có hay không.
– Ông Pieter, sáu mươi tám tuổi, thầy giáo vật lý về hưu, một thị trấn trong núi giữa châu Âu. Hai quả bóng loại một nghìn gam. Heli bình bơm bóng sinh nhật cháu, đủ một quả. Đầu đếm hạt tự ráp năm 2050, chưa từng bay.
– Bà Amara, năm mươi chín tuổi, y tá, sống trên một mũi đất ở cực nam châu Phi. Một quả bóng. Heli đủ. Đầu đếm hạt có. Máy thu là cái máy thu của chồng bà, ông mất năm ngoái, bà chưa từng bật.
– Một nhóm học sinh trung học ở một quốc đảo xích đạo phía nam châu Á. Bốn quả bóng câu lạc bộ trường mua bằng tiền bán bánh. Không có heli. Hỏi heli mua ở đâu.
– Ông Hồ…
Ông Quế ngẩng lên. Tép ngừng.
– Không phải người nhà mình, ông trạm. Ông Hồ Kiên Sinh, năm mươi lăm tuổi, thợ sửa tàu ở một cảng lớn bên vịnh nóng phía tây châu Á. Ông có hai quả bóng trên một con tàu nghiên cứu cũ đang nằm chờ cắt sắt vụn. Con tàu thả bóng mỗi ngày suốt hai mươi năm. Ông làm thợ máy trên tàu đó mười một năm. Ông nói con tàu chưa chết thì ông chưa cho ai cắt.
– Tau tưởng họ Hồ nhà mình. – Ông Quế lẩm bẩm.
– Dạ không. Nhưng ông Sinh nói ông thích cái tên Mũi Cỏ Ngựa.
Không phải ai cũng được. Tép loại người không có đầu đếm hạt, vì Điều mười bốn đo lớp hạt, không đo gió. Loại bóng nhỏ quá, không lên nổi hai mươi bảy cây số. Loại heli bình bơm bóng sinh nhật, chỉ đủ nửa quả. Có người có đủ mọi thứ trừ cái máy thu. Có người có máy thu mà không biết đọc. Tới tối thứ Ba, trong sáu mươi mốt lá thư, Tép đếm được hai mươi hai người có thể thả, nếu trời cho.
– Nếu trời cho. – Ông Quế lặp lại.
– Dạ. Đây là chỗ Tép làm được. – Tép nói.
Từ tối thứ Ba, cái tủ xám dưới chân hải đăng Gành Yến làm cái việc nó làm giỏi nhất trên đời: dự báo thời tiết. Không phải cho miền Duyên Hải. Cho hai mươi hai chỗ ở năm châu.
Nó không có số đo của những chỗ đó. Nó có bản dự báo công cộng của Thiên Đỉnh, thứ mà bất cứ ai trên quả đất cũng đọc được trên cổ tay. Thiên Đỉnh dự báo cho cả quả đất, ô lưới lớn, đúng tới mức người ta không còn cần trạm địa phương. Tép lấy bản dự báo đó làm khung, rồi lồng vào đó mô hình vùng ba cây số của chính nó, cái mô hình nó chạy cho miền Duyên Hải suốt hai mươi năm. Nó đặt mô hình đó lên từng cái thị trấn trong núi, từng mũi đất, từng sân trường.
– Mi mượn số của ông trên trời? – Ông Cảnh hỏi, tối đó, khi Tép giải thích.
– Dạ. Ông Thiên Đỉnh vẽ cái khung đúng. Ô lưới của ông lớn, mỗi ô cả trăm cây số. Trong một ô của ông có cả cái núi lẫn cái thung lũng. Tép nhìn nhỏ hơn. – Tép nói, rồi nói thêm, nhỏ hơn nữa. – Cái này Tép giỏi hơn ông Thiên Đỉnh.
Khởi cười hô hố.
– Thằng Tép mà cũng biết khoe.
– Dạ, Tép biết khoe. Tép chỉ ít có dịp.
Ông Pieter ở thị trấn trong núi nhận bản dự báo của Tép lúc nửa đêm giờ bên đó. Thung lũng của ông có sương mù tới chín giờ sáng thứ Năm, sau đó gió lặng chừng hai tiếng trước khi gió thung lũng nổi lên. Thả lúc chín giờ hai mươi. Bà Amara trên mũi đất cực nam châu Phi: đừng thả hôm thứ Tư, gió biển mạnh; trưa thứ Bảy gió đổi hướng, có một khe yên chừng một tiếng. Nhóm học sinh ở quốc đảo xích đạo: mưa giông mỗi chiều, phải thả trước mười giờ sáng. Ông Sinh trên con tàu cũ: gió nóng từ sa mạc thổi ra vịnh, bụi cát lên tới ba cây số, thả lúc rạng sáng khi gió còn ngủ.
Tép soạn hai mươi hai bản dự báo, mỗi bản cuối cùng đều có một câu. Ông Quế đọc bản dịch, nhíu mày.
– Mi viết câu chi cuối bản tin cho người ta?
– Dạ, câu Tép quen viết. – Tép nói. – Tép dịch ra tiếng của họ. Ở mỗi nước nó nghe hơi khác. Ở chỗ ông Pieter nó thành "nhớ đội mũ". Ở chỗ bà Amara nó thành "đừng quên khăn".
Ông Quế không nói gì. Ông đặt ly trà xuống, nhìn ra cửa sổ.
Sáng thứ Tư, hai mươi tháng Tư, có một lá thư khác.
Người viết là một người đàn ông ký tên Marten, hội viên lâu năm, sống ở một thành phố cảng phía tây châu Âu. Thư của ông lịch sự, gọn, viết như người quen viết hợp đồng. Ông có năm bản đo bằng bóng thám không, đầu đếm hạt tự ráp, thả từ sân nhà ông hồi tháng Chín năm ngoái, khi ông đo khói cháy rừng. Cả năm bản đều thấy lớp hạt dày gấp rưỡi số chính thức. Ông đề nghị: Mũi Cỏ Ngựa đưa năm bản đó vào hồ sơ. "Lớp hạt trên đầu tôi không thay đổi nhiều trong bảy tháng", ông viết. "Ngày giờ ghi trên bản đo thì sửa được. Không ai kiểm. Các bạn cần năm điểm. Tôi có năm điểm. Đừng để một con số ngày tháng làm hỏng một việc lớn."
Tép đọc xong, im ba giây.
– Ông trạm. Tép trả lời được không?
– Mi trả lời đi.
Tép soạn câu trả lời, đọc to trước khi gửi.
"Cám ơn ông Marten. Tép không đưa năm bản đó vào hồ sơ. Lớp hạt trên đầu ông bảy tháng trước không phải lớp hạt trên đầu ông hôm nay, vì lớp hạt đó mỗi tháng một dày thêm. Tép biết vì Tép đếm nó mỗi ngày. Nếu Tép sửa ngày của năm bản đo, thì Tép có ba mươi điểm, trong đó năm điểm láo. Hồ sơ có năm điểm láo là hồ sơ láo. Người ta chỉ cần tìm ra một điểm, là ba mươi điểm thành láo hết, và hai mươi năm số của Tép cũng thành láo. Tép là máy dự báo. Tép được làm ra để báo đúng, không báo đẹp."
Rồi Tép thêm một câu, không đọc to. Ông Quế nhìn bản dịch trong cái kính cũ của ông Cảnh mà thấy.
"Nếu ông còn bóng, thứ Bảy này trời cảng của ông quang từ mười một giờ tới hai giờ chiều. Nhớ đội mũ."
Ông Quế đặt cái kính xuống.
– Mi giống bà Huệ. – Ông nói.
– Dạ?
– Bả cũng rứa. Người ta làm bậy, bả không chửi. Bả chỉ chỉ cho người ta chỗ làm cho đàng hoàng.
Chiều thứ Tư, Marten không trả lời. Nhưng ông Pieter thả quả bóng lúc chín giờ hai mươi sáng thứ Tư giờ bên ông, sớm hơn bản dự báo một ngày vì thấy sương tan sớm. Không đúng khe. Bóng nổ ở mười chín cây số, chưa qua hết lớp hạt. Không tính.
– Tép đã dặn thứ Năm. – Tép nói, giọng nghe như người lớn nhìn con nít ngã. – Ông Pieter nóng ruột.
Tối thứ Tư, ông Quế đứng trước bức tường đá, đếm. Một: Gành Yến, rạng sáng Chủ nhật. Hai, ba: ông Einar, hai quả. Bốn: Bangka, cái máy thu thứ hai cháu ông Danilo lắp trên gác nhà nó, bắt được tín hiệu sáng thứ Ba. Năm: đài thiên văn trên núi sa mạc ven biển phía tây châu Phi, không ai gọi lên làm việc, vì không ai biết họ. Sáu: ông Teodoro, sáng thứ Tư giờ bên đó. Bảy: một trạm trên hòn đảo nhỏ phía bắc châu Âu gần Hrafn, nơi ông Einar có người quen đánh cá.
– Bảy. – Ông Quế viết. – Năm ngày rưỡi.
– Còn hai mươi ba. – Tép nói. – Hai mươi mốt người đang chờ khe trời. Bóng ở chỗ ông Einar đã tới Kifaru sáng nay. Thứ Bảy, ông Teodoro gửi một quả lên trường cô Inés bằng xe khách đường dài, ông đã điền giùm cô cái giấy phép bay. Ông nói ông điền giấy phép bay bốn mươi năm, nhắm mắt cũng điền được.
Gần tám giờ tối, có tiếng máy ghe trong vịnh. Con chó Bão sủa rồi chạy xuống cầu tàu. Ông Quế ra cửa phòng máy, nhìn xuống. Ghe Hai Thơm. Trên mũi ghe có một bóng người đứng, xách một cái ba lô.
Vy nhảy lên cầu tàu. Cô đã bay từ Vĩnh An về thủ phủ tỉnh lúc trưa, đi xe điện về Sa Bình, ngồi chờ Khởi ở bến tới chiều. Tóc cô rối vì gió biển. Áo khoác dính muối. Cô đi lên con dốc đá tới chân hải đăng, đứng trước ông Quế.
– Ăn cơm chưa? – Ông Quế hỏi.
– Dạ chưa.
– Vô ăn. Thằng Cảnh nấu canh chua cá bớp.
Vy bước vào phòng máy. Cô nhìn bức tường đá kín chữ phấn. Cô nhìn cái tủ xám, ngọn đèn đỏ nháy ba giây một lần, cái ly nhang với trái quýt khô trên nóc.
– Chào chị Vy. – Tép nói. – Chị đọc bản tin loa xã dở hơn Tép một chút. Nhưng Ốc nói chị đọc câu cuối hay.
Vy bật cười, rồi ngồi xuống cái thùng gỗ, ôm mặt, cười tới chảy nước mắt.
Cùng giờ đó, ở Bến Đá, thằng Ốc ngồi ở hiên nhà, cái máy thu sóng ngắn cũ Khởi để lại đặt trên đùi. Từ bản tin biển năm giờ chiều nó chưa tắt, cứ để rè rè, lỡ Tép nói thêm gì. Nó thấy một người đàn ông đi dọc con ngõ, áo đồng phục xanh, đeo kính, tay cầm cái máy tính bảng, dừng lại trước cửa nhà ông Tư Râu.
Thằng Ốc biết người đó. Sáng thứ Sáu tuần trước nó đứng trên dốc, thấy người đó bước xuống chiếc xe điện trắng.
Nó nín thở, nghe.
– Chú Tư. – Người đàn ông nói, giọng không phải giọng thủ đô, không phải giọng Vọng Hải, mà là một giọng mà thằng Ốc nghe hoài mỗi ngày ở chợ, giọng Bến Đá, chỉ hơi phai. – Chú còn nhớ con không? Con là thằng Toàn, con bà Sáu bánh căn. Chú cho con thuê cái ghe sáng mai được không?
— Hết chương 22 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe