Chương 15: Bếp don của bà Don
– Ủ bóng.
Ông Quế nói hai chữ đó lúc mười giờ tối thứ Tư, khi Vy đã đi lên lầu và Tép đã thôi báo vị trí sáu cái thùng. Ông nói một mình, ngoài hiên, nằm trên võng, mắt mở trừng trừng nhìn mái hiên. Rồi ông ngồi bật dậy.
– Tép. Ủ bóng.
– Dạ ông trạm?
– Hồi tau còn trẻ, ở trạm vùng núi, mùa đông thả bóng ban đêm. Trời lạnh, bóng cứng. Người ta đem bóng vô phòng ấm, ủ cả đêm, sáng mới thả. Cao su ấm thì mềm lại, giãn ra được. Cái đó người ta gọi là ủ bóng. – Ông nói nhanh, như sợ quên. – Mi có trong tài liệu không?
Tép im ba giây.
– Dạ có. Trong sổ tay thả bóng năm 2038. Bóng cao su để lâu hoặc gặp lạnh phải ủ ở nhiệt độ từ ba mươi lăm tới năm mươi độ, ít nhất mười hai tiếng, độ ẩm vừa phải. Sau khi ủ phải giữ ấm cho tới lúc bơm.
– Mười hai tiếng. – Ông Quế nói. – Ba mươi lăm tới năm mươi độ.
– Dạ.
– Trạm mình có chỗ mô nóng như rứa mười hai tiếng không?
– Không, ông trạm. Nóng nhất là dưới hầm cạnh tủ Tép, ba mươi hai độ khi tắt máy lạnh. Lò sấy trong bếp thì nóng quá, một trăm độ, cao su chảy.
Ông Quế đứng dậy khỏi võng. Ông đi đi lại lại trên hiên, chân trần, dép để dưới đất. Rồi ông dừng lại, nhìn xuống xóm Bến Đá tối om, chỉ có một ngọn đèn vàng le lói ở một căn nhà gần chợ, căn nhà mà ông biết rõ là của ai.
– Mấy giờ chị Mến dậy nấu don?
– Một giờ sáng, ông trạm. – Tép nói. – Bà Don nhóm lửa lúc một giờ, nấu tới bốn giờ, rồi gánh ra chợ.
Ông Quế xỏ dép.
Bà Don nghe ông Quế nói xong, lúc mười giờ rưỡi tối, đứng ở cửa nhà, tay cầm cây đèn dầu, mặt nhăn như trái táo khô.
– Đem cái bong bóng xuống bếp tau ủ?
– Dạ, chị Mến.
– Ủ như ủ cơm rượu?
– Dạ gần gần rứa.
Bà nhìn ông Quế từ đầu tới chân, rồi nhìn ra sau lưng ông, thấy thằng cháu nội đang đứng nép bên hàng rào dâm bụt, tay ôm cái bộ đàm.
– Bếp tau từ một giờ tới bốn giờ là nóng. – Bà nói. – Bốn giờ tau đi chợ, than còn đỏ tới sáu giờ. Ban ngày tau ninh nồi nước dùng cho bữa sau, từ mười giờ tới hai giờ chiều. Mấy người tính thả lúc ba giờ sáng thứ Sáu. Rứa là tới đó được bao nhiêu tiếng?
Ông Quế nhẩm. Ông nhẩm sai, thằng Ốc ở sau hàng rào nói to: "Mười một tiếng, nội!"
– Còn một tiếng thì sao? – Bà hỏi.
– Thì con đốt thêm than. – Thằng Ốc nói.
– Tiền than ai trả?
– Con trả. Con lấy tiền ống heo.
Bà Don nhìn thằng cháu một lúc lâu. Rồi bà quay vào nhà, để cửa mở.
– Đem xuống. – Bà nói vọng ra. – Mà đừng có làm cho cái bóng hôi mùi don. Người ta đem lên trời mà hôi mùi don là người ta cười cả làng.
Bếp nhà bà Don là một gian nhà thấp, lợp tôn, vách gạch đã ám khói đen bóng. Giữa bếp là cái lò đất đắp tay, trên lò là nồi nhôm lớn đen kịt, nồi nấu don năm mươi năm. Quanh bếp, treo trên mấy cây sào ngang mái, là đủ thứ đồ: mấy xâu ớt khô, mấy bó sả, mấy con cá khô, một cái nón lá rách, một cái rổ tre. Mùi khói, mùi hành phi, mùi don, mùi ớt quện vào nhau đặc quánh.
Ông Quế mang xuống một trong bốn quả bóng còn lại, nguyên trong hộp. Ông không treo nó lên sào như thằng Ốc đề nghị. Ông đặt cái hộp lên một cái kệ gỗ cách bếp hai mét, mở nắp, gỡ lớp giấy lụa ra cho hơi ấm vào. Ông đặt cạnh đó một cái nhiệt kế thủy ngân lấy từ trạm. Thằng Ốc trải chiếu nằm ngay dưới kệ, ôm cái bộ đàm.
– Ba mươi lăm tới năm mươi. – Ông Quế dặn. – Dưới ba mươi lăm thì kêu nội mi thêm than. Trên năm mươi thì mở cửa sổ. Mi canh được không?
– Dạ được.
– Mi ngủ quên thì sao?
– Dạ có Tép. – Thằng Ốc giơ cái bộ đàm lên. – Tép canh giùm con.
– Tép không thấy nhiệt kế, Ốc. – Tép nói qua bộ đàm. – Ốc phải đọc cho Tép nghe. Mỗi nửa tiếng.
– Rứa thì mi kêu tau dậy mỗi nửa tiếng.
– Dạ. Tép sẽ kêu.
Ông Quế về trạm lúc mười hai giờ đêm. Thằng Ốc đọc nhiệt kế lần thứ nhất lúc một giờ, khi bà Don nhóm lửa: ba mươi mốt độ. Một giờ rưỡi: ba mươi tám. Hai giờ: bốn mươi hai. Hai giờ rưỡi, Tép gọi mãi nó không thưa. Tép gọi bốn lần, lần thứ năm thì bà Don ở bên lò nghe thấy cái bộ đàm kêu "Ốc ơi, Ốc ơi", bà cầm cây đũa bếp gõ lên đầu thằng cháu một cái.
– Dậy. Cái máy nó kêu mi kìa.
– Dạ… bốn mươi lăm. – Thằng Ốc nói, mắt nhắm mắt mở.
Tối hôm đó, trên Kênh Sáu Giờ, Tép gửi một gói ngắn. Không phải giờ gửi gói thường lệ, nó gửi lúc hai giờ sáng. Nó gửi cho tất cả các trạm đã trả lời: bóng của chúng tôi nổ ở chín cây số vì cao su giòn. Hãy ủ bóng mười hai tiếng ở ba mươi lăm tới năm mươi độ trước khi thả. Giữ ấm tới lúc bơm.
Thứ Năm, gói trả lời về dồn dập.
Bà Rahima của Sapla viết: ở trạm không có phòng ấm, nhưng nhà bà có bếp nấu cơm, bà sẽ đặt bóng cạnh nồi cơm. Ông Einar của Hrafn viết: trên đảo của ông nhà nào cũng có phòng xông hơi, ông sẽ ủ bóng trong phòng xông hơi nhà mình, ở bốn mươi độ. Ông xin lỗi trước vì quả bóng sẽ có mùi gỗ bạch dương. Ông Danilo của Bangka hỏi mượn cái lò sưởi ấp trứng của một trại gà gần cảng. Cô giáo Inés của trường Cóndor viết: bếp của trường nấu súp cho học trò từ năm giờ sáng tới mười một giờ trưa, học trò của cô sẽ thay phiên canh nhiệt kế, coi như bài thực hành. Ông Doug của Mulga viết đúng một câu: "Để trong ca bin xe tải ngoài nắng. Năm mươi mốt độ. Mở hé cửa." Và Wanjiru của Kifaru, người vừa nhận hai cái thùng lúc sáng, viết dài nhất.
– Ở hợp tác xã có lò sấy chè. – Tép dịch, đọc cho cả phòng trực nghe. – Lò sấy chè chạy ở bốn mươi lăm độ, cả ngày, cả đêm, mùa này đang thu hoạch. Wanjiru sẽ treo bóng trong lò sấy chè, cạnh những tấm phên chè đang héo. Cô nói, quả bóng sẽ thơm mùi chè. Cô hỏi, ở Mũi Cỏ Ngựa quả bóng thơm mùi gì?
Vy bật cười.
– Nói cô ấy là mùi don. – Cô nói.
– Don là gì, chị Vy? Tép phải dịch thế nào?
– Một loại con nhỏ như con hến, sống ở sông. – Ông Quế nói từ ngoài cửa. – Nói nó vậy.
Tép dịch. Một tiếng sau, Wanjiru gửi lại một hình vẽ tay, chụp bằng điện thoại: một con sò nhỏ có cặp mắt to, đội một cái nón lá, bay lên trời bám vào một quả bóng.
Thứ Sáu, ngày tám tháng Tư, ba giờ sáng, quả bóng rời bếp nhà bà Don.
Nó đã nằm trong bếp hơn một ngày, mười ba tiếng rưỡi trong hơi nóng. Những giờ bếp có lửa, nhiệt kế chưa lần nào xuống dưới ba mươi bảy. Thằng Ốc đã đốt thêm than hai lần, bằng tiền trong ống heo, mười hai nghìn. Ông Quế gói quả bóng trong một tấm chăn len, tấm chăn bà Huệ đan từ năm nào, đặt nó lên yên sau xe máy điện của Khởi. Khởi chạy chậm như chở trứng lên con dốc đất đỏ, thằng Ốc ngồi sau ôm cái hộp, ông Quế đi bộ theo, cầm đèn pin.
Trên trạm, Vy đã trải bạt, đã dựng ống bơm, đã bật máy thu. Tép đã báo gió: một mét một giây, hướng tây bắc, trời quang, trăng đã xế về phía tây.
Ông Quế mở tấm chăn. Ông đặt tay lên quả bóng. Ấm. Mềm.
– Tép. – Ông nói. – Bóng ấm.
– Dạ ông trạm. Bơm nhanh, trước khi nó nguội.
Ông bơm. Quả bóng phồng lên nhanh hơn hai lần trước, căng hơn, mặt cao su sáng bóng hơn dưới đèn pin. Ông móc chì, kiểm lực nâng, buộc máy thám không. Thằng Ốc ôm cái hộp xốp. Ông buông. Thằng Ốc buông.
Không ai ngồi. Không ai nói. Bốn người đứng giữa sân, ngửa cổ.
– Năm cây số. – Tép đọc. – Chín cây số. Âm hai mươi lăm độ.
Ông Quế nhắm mắt.
– Mười cây số. Mười hai. Mười lăm. Âm bảy mươi.
Ông mở mắt.
– Mười tám cây số. Đầu đếm hạt bắt đầu đếm được bụi. Hai mươi. Hai mươi lăm. Ba mươi. – Tép đọc, mỗi con số nhanh hơn một chút, như người đang chạy. – Ba mươi hai. Ba mươi hai cây số sáu trăm mét. Bóng nổ.
Thằng Ốc nhảy lên, hét một tiếng, rồi bịt miệng, rồi buông tay ra hét tiếp. Khởi ôm chầm lấy nó, nhấc bổng lên. Vy đứng nhìn chuỗi số trong kính, nước mắt chảy ra mà cô không biết.
– Gấp một phẩy bảy chín. – Tép nói. – So với số chính thức sáng nay. Khớp với quả thứ nhất.
Ông Quế không nói gì. Ông cúi xuống, gấp tấm chăn len lại, gấp chậm, vuốt cho thẳng từng mép, như người ta gấp một lá thư.
– Một. – Vy nói, giọng run. – Bác ơi. Điểm thứ nhất trong cửa sổ. Một trên ba mươi.
– Ừ. – Ông Quế nói. – Một.
Trưa thứ Sáu, Sapla gửi số. Bà Rahima thả lúc sáu giờ sáng giờ bên đó, trên con đê. Quả bóng ủ bên nồi cơm nổ ở hai mươi chín cây số. Gấp một phẩy bảy lăm. Hai.
Chiều thứ Sáu, Bangka gửi số. Đứa cháu ông Danilo lắp máy thu chạy tốt. Quả bóng ủ trong lò ấp trứng nổ ở ba mươi mốt cây số. Gấp một phẩy tám hai. Ba.
Sáng thứ Bảy, Hrafn gửi số. Ông Einar thả lúc nửa đêm giờ bên đó, ngoài trời âm hai độ, gió bắc thổi buốt. Quả bóng thơm mùi gỗ bạch dương nổ ở hai mươi tám cây số. Lớp bụi ở trên đảo của ông mỏng hơn ở phương nam, nhưng vẫn dày hơn số chính thức một phẩy sáu lần. Bốn.
Ông Quế viết từng con số lên tấm bản đồ lật ngược. Tới con số bốn, ông dừng tay, nhìn nó lâu.
Tối thứ Bảy, chín tháng Tư, cả trạm ăn cơm sớm. Bà Don lên, mang theo một nồi don, nói "bữa ni ăn don cho biết cái mùi mà con nhỏ bên châu Phi nó hỏi". Khởi mang lên mấy con mực nướng. Thằng Ốc ngủ gục trên ghế từ bảy giờ, vì đã hai đêm nó canh nhiệt kế.
Chín giờ kém năm, có tiếng xe dừng trước cổng trạm.
Không phải tiếng xe máy điện lạch cạch của Khởi, không phải tiếng xe ba gác của thằng Phát. Là một tiếng êm, trầm, của một chiếc xe điện lớn. Đèn pha quét qua hàng rào, qua bụi xương rồng, rồi tắt.
Vy đứng dậy, đi ra hiên. Ông Quế không đứng.
Ngoài cổng, dưới ngọn đèn vàng, có một chiếc xe điện màu đen, bóng loáng, loại người ta chỉ thấy ở thành phố. Cửa xe mở. Một người đàn ông bước xuống. Người mảnh, áo sơ mi trắng, tóc hai bên thái dương bạc. Anh đứng ở cổng, nhìn lên ngôi nhà vàng nhạt có tháp ăng-ten, nhìn rất lâu, như người ta nhìn một ngôi nhà mình đã từng sống.
– Anh Hiển? – Vy nói khẽ.
Trong phòng trực, sau lưng cô, cái đồng hồ quả lắc gõ chín tiếng. Tám giờ năm mươi sáu phút.
— Hết chương 15 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe