Chương 24: Ốc ra đảo
– Nội ơi, nội say sóng không?
– Say cái đầu mi. Tau đi ghe từ hồi tau chưa đẻ ra ba mi.
Bà Don ngồi giữa khoang ghe Hai Thơm, đúng chỗ tuần trước cái tủ xám nằm, hai chân duỗi thẳng, lưng dựa vào bao gạo. Bên cạnh bà là cái nồi nhôm đen kịt, cái nồi nấu don năm mươi năm, đậy nắp, cột dây cho khỏi đổ. Một bao than. Một thau don đã lể. Một rổ bánh tráng. Một cái ghế nhựa thấp, vì bà nói ngồi ghế người khác thì múc không ngon.
Ba giờ chiều thứ Sáu, hai mươi hai tháng Tư. Thằng Ốc tan học lúc mười một giờ, chạy một mạch về nhà, thấy nội đã dọn hàng từ trưa, chuyện năm chục năm chưa có. Cả chợ hỏi bà Don đi đâu. Bà nói đi thăm bà con. Không ai tin, vì cả chợ biết bà Don không có bà con nào ngoài đảo.
Ghe ra khỏi vịnh, gió nồm thổi ngược mặt, mát. Khởi đứng ở lái, cái nón lá quai dây dù xanh sụp xuống trán. Biển chiều xanh ngọc, sóng nhỏ, nắng lóa trên mặt nước như rắc bạc. Thằng Ốc ngồi trên mũi ghe, chỗ Khởi cấm ngồi, mà bữa nay Khởi không cấm.
– Chú Khởi, cá chuồn về chưa?
– Chưa. – Khởi nói. – Nước còn lạnh. Năm ni nước lạnh lâu.
– Tại cái bụi trên trời hả chú?
Khởi không trả lời ngay. Anh nhìn lên trời, cái bầu trời xanh nhạt hơi đục mà người Sa Bình nhìn quen tới mức không ai còn thấy nó đục.
– Tau không biết. – Anh nói. – Thằng Tép nói rứa. Tau tin thằng Tép.
Thằng Ốc ngồi nghe câu đó, thấy trong ngực ấm lên. Hai mươi năm chú Khởi chê Tép trên sóng ngắn, giờ chú nói "tau tin thằng Tép" giữa biển, không có ai nghe ngoài nó với nội.
Bốn giờ rưỡi, ghe cập cầu tàu Gành Yến. Con chó Bão chạy xuống sủa ầm. Thằng Ốc nhảy lên cầu tàu trước khi Khởi kịp quăng dây, chạy một mạch lên con dốc đá. Nó qua mấy bụi xương rồng, mấy cái chuồng gà của dân đảo, tới chân cái tháp trắng có vành đỏ, xông vô phòng máy.
Cái tủ xám đứng đó. Ngọn đèn đỏ nháy ba giây một lần. Cái ly nhang với trái quýt khô của nội trên nóc.
Thằng Ốc đứng ở cửa, thở hồng hộc, không nói được.
– Ốc tới rồi. – Tép nói. – Hôm nay Ốc học môn gì?
Thằng nhỏ bước lại, đặt hai bàn tay lên vỏ tủ. Vỏ tủ ấm. Nó áp má vào, như hôm thứ Năm tuần trước ở dưới hầm.
– Văn với Thể dục. – Nó nói. – Thằng Bin hỏi tau mi bị đem bán ve chai chưa. Tau nói chưa, mi ra đảo nghỉ mát.
– Dạ đúng. Tép đang nghỉ mát. – Tép nói. – Ở đây đường truyền mạnh hơn, Tép coi được phim với chú Cảnh.
Ông Quế đứng sau lưng thằng nhỏ, tay cầm cái khăn lau kính. Ông không có máy quang phổ để lau ở đây. Ông lau cái lồng kính trên đỉnh hải đăng, mỗi sáng, phụ ông Cảnh, vì không lau cái gì thì ông không biết làm gì với hai bàn tay.
– Ốc. – Ông nói.
– Dạ.
– Mai mi buông.
Thằng Ốc quay lại. Mắt nó sáng lên như cái đèn hải đăng vừa bật.
Bà Don lên tới phòng máy sau đó hai mươi phút, Khởi vác cái nồi đi trước, Vy xách bao than đi sau. Bà đứng ở cửa nhìn cái tủ xám, nhìn cái ly nhang, rồi quay sang ông Cảnh, người bà chưa gặp lần nào.
– Bếp mi ở đâu?
– Dạ đằng kia. – Ông Cảnh nói, chỉ về cái nhà nhỏ lợp ngói bên hông tháp, lần đầu tiên trong mấy ngày Vy nghe ông xưng "dạ".
– Bếp củi hay bếp than?
– Dạ củi phi lao.
– Củi phi lao lửa bốc nhanh, tàn nhanh. – Bà Don nói. – Tau đem than. Mi dọn cho tau một góc.
Ông Cảnh đi dọn. Con chó Bão đi theo bà Don, ngửi cái nồi, vẫy đuôi.
Chiều hôm đó, trên đảo Gành Yến, chuồn chuồn bay thấp.
Thằng Ốc thấy trước tiên. Nó đang ngồi trên bãi đá phía tây chân tháp, chỗ rạng sáng Chủ nhật ông Quế với ông Cảnh thả quả bóng thứ nhất của cửa sổ mới. Từ mấy bụi cỏ ven bãi, những con chuồn chuồn ớt đỏ chót bay lên, rồi những con chuồn chuồn kim xanh mảnh như cây kim, bay sát mặt đá, sát mặt nước, quẩn quanh chân nó.
– Tép. – Nó nói vào cái bộ đàm, cái bộ đàm vàng ố của ông nội mà ông Quế trả lại cho nó lúc ở cầu tàu. Ở đây, cách phòng máy năm chục mét, bộ đàm còn sóng. – Chuồn chuồn bay thấp.
– Tép thấy. Tép có camera ông Bảy gắn trên cửa sổ.
– Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm. – Thằng Ốc đọc. – Nội tau nói rứa. Mai mưa hả?
– Câu đó trúng chừng sáu phần mười, Ốc. Chuồn chuồn bay thấp vì muỗi bay thấp, muỗi bay thấp vì không khí ẩm nặng. Mai không mưa. Mai trời trong tới chiều. Chuồn chuồn bữa nay bay thấp vì gió nồm mới về mang hơi biển lên.
– Rứa câu đó trật.
– Không trật. Đúng sáu phần mười là nhiều. Tép đúng chín phần mười mà người ta còn chê. – Tép nói. – Ốc biết câu "mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa" không?
– Không.
– Câu đó ông bà mình nói hồi xưa. Đêm nào sao nhiều là mai nắng, đêm nào sao ít là mai mưa. Hồi xưa câu đó trúng. Bây giờ thì trật nhiều.
– Răng trật?
– Tại bây giờ đêm nào sao cũng vắng. Mà không phải vì mưa. – Tép nói. – Vì cái lớp bụi trên trời.
Thằng Ốc ngẩng lên nhìn trời. Mặt trời đang xuống phía tây, phía đất liền, phía Mũi Cỏ Ngựa mờ xa sau làn hơi nước. Và bầu trời bắt đầu đổi màu. Tím hồng, rồi tím sẫm, viền vàng ở chân trời. Ở đây, giữa biển, không có ruộng mía, không có dãy núi chắn. Màu tím trải ra cả nửa vòm trời, rồi lan sang nửa bên kia, phản chiếu xuống mặt biển thành một tấm gương tím rộng tới chân trời.
Nó ngồi nhìn cho tới khi màu tím tắt. Năm mươi mốt phút, Tép nói.
Tối đó có canh chua cá bớp của ông Cảnh và một nồi don của bà Don, cả mấy nhà gần chân tháp kéo nhau lên ăn. Sau bữa cơm, Vy ngồi với thằng Ốc ngoài bậc cửa phòng máy.
Cô định nói từ chiều. Cô đã định nói từ cái tối thứ Tư tháng trước, khi nó ngồi đối diện cô, mắt mở to, nghe chuyện Điều mười bốn. Cô đã không nói được. Lần này cô nói.
– Ốc. Chị kể em một chuyện. Em nghe hết rồi giận chị cũng được.
– Dạ.
– Cái cờ "kính bẩn". Cái cờ làm cho số của Tép bị loại hai trăm mấy chục ngày. Cái cờ làm cho bốn nghìn cái trạm trên thế giới bị loại. – Vy nói. – Chị viết nó. Năm 2059. Hồi đó chị nghĩ nó bắt máy hư.
Thằng Ốc không nói gì. Nó ngồi im, nhìn xuống bậc cửa đá, nhìn hai bàn chân trần của nó dính cát. Vy chờ. Cô đã chuẩn bị cho mọi kiểu giận: nó đứng dậy bỏ đi, như hôm Chủ nhật ở cầu thang hầm; nó khóc; nó nói "rứa là chị giết nó".
– Chị viết cái lọc để bắt máy hư. – Thằng Ốc nói, chậm, như đang làm bài toán. – Tép không hư. Rứa là cái lọc của chị bắt trật.
– Ừ.
– Bắt trật thì sửa. – Thằng Ốc nói. – Tép trật bảy trăm ba mươi mốt lần. Lần nào Tép cũng sửa.
Vy nhìn thằng nhỏ. Nó nhìn lại cô, không giận, chỉ hơi nhíu mày như người lớn nghe một chuyện đơn giản mà người ta kể cho phức tạp.
– Chị sửa chưa?
– Chưa. Người ta chưa cho chị sửa.
– Rứa mai thả bóng cho người ta cho.
Trong phòng máy, sau lưng hai chị em, cái loa con trên nóc tủ kêu một tiếng nhỏ, như tiếng ai đó đang cười mà không muốn cho người ta biết.
Tám giờ, thằng Ốc gọi điện cho ba.
Nó ngồi một mình ở bãi đá phía tây, chỗ có sóng điện thoại mạnh nhất đảo. Nó bấm cổ tay. Hình ba nó hiện lên lơ lửng trước mặt, cỡ hai bàn tay. Ba nó ngồi trong căn phòng có giường tầng như lần trước, nhưng lần này áo thun xám của căn cứ có thêm một cái thẻ đeo trên ngực. Mắt ba thâm hơn. Râu chưa cạo.
– Ốc. Ba đang trong ca. Ba có năm phút.
– Dạ. Ba ơi, tháng sau ba về mua diều cho con, ba nhớ không?
Ba nó im một chút.
– Ba nhớ. Ba chưa về được, con. Ba ở căn cứ tới hết tháng Tư. Bên ba đang chuẩn bị một đợt bay lớn.
– Đợt Hạ hả ba?
Ba nó nhìn nó, cái nhìn lạ.
– Sao con biết chữ đó?
– Cả xóm biết, ba. Ông Quế nói. Tép nói. Chị Vy nói.
Ba nó không trả lời. Ông nhìn ra sau lưng thằng nhỏ, thấy nền trời đen, thấy cái chấm sáng quét một vòng trên đỉnh tháp trắng.
– Con đang ở đâu đó?
– Dạ con ở đảo Gành Yến. Với ông Quế. Với nội. Với Tép.
Ba nó im lâu. Thằng Ốc thấy ông nuốt nước miếng, thấy cái yết hầu ông lên xuống.
– Ốc. – Ba nó nói, rất nhỏ, nhỏ tới mức thằng nhỏ phải đưa cổ tay sát tai. – Ở chỗ con, trời có tím không?
Thằng Ốc ngẩn ra.
– Tím, ba. Chiều nay tím năm mươi mốt phút. Ở ngoài đảo tím hơn ở nhà. Tím xuống cả mặt biển.
Ba nó gật đầu chậm. Ông không nói gì nữa một lúc lâu. Phía sau ông, có tiếng ai đó gọi, tiếng loa thông báo gì đó bằng giọng máy.
– Ba phải vô ca. – Ba nó nói. – Con ở với ông Quế thì ba yên tâm. Con nghe lời ông Quế.
– Dạ.
– Ốc.
– Dạ?
Ba nó mở miệng, như định nói gì đó dài. Rồi ông chỉ nói:
– Con buông cái bóng cho nhẹ tay.
Hình ba nó tắt. Thằng Ốc ngồi trên bãi đá, nhìn ra biển tối, nghe tiếng sóng. Rồi nó bấm nút bộ đàm.
– Tép. Ba tau hỏi trời có tím không.
– Tép nghe.
– Răng ba tau hỏi rứa?
Tép im, lâu hơn bình thường.
– Tép không biết, Ốc. – Nó nói. – Người ta hỏi trời có tím không khi người ta đã biết trời tím là cái gì. Ba Ốc ngồi coi máy bay ở phi đội số mấy?
– Tau không biết. Ba nói số của ba là số bảy. Ba nói số bảy là số may.
Tép không hỏi thêm.
Nửa đêm, bà Don nhóm lửa.
Bếp nhà ông Cảnh là một gian nhỏ vách gạch, nóc ngói thấp, có một cái lò xây bằng gạch thẻ. Bà Don cho than vào lò, quạt cho hồng, bắc nồi nước don lên. Ông Quế mang quả bóng cuối cùng vào, gói trong tấm chăn len bà Huệ đan, đặt trên cái chạn gỗ cách lò hai mét, mở chăn ra một nửa cho hơi ấm vào. Cạnh đó là cái nhiệt kế thủy ngân.
Thằng Ốc trải chiếu nằm dưới chạn, như hai tuần trước ở bếp nhà nó, ôm cái bộ đàm.
– Ba mươi lăm tới năm mươi. – Ông Quế dặn. – Mi biết rồi.
– Dạ con biết.
– Ngủ quên thì Tép kêu.
– Dạ có nội gõ đầu.
Bà Don không nói gì. Bà ngồi trên cái ghế nhựa thấp của bà, trước cái lò của người khác, khuấy nồi don, cái vá múc lên đổ xuống. Cái quạt nan trong tay bà phành phạch. Than đỏ rực. Mùi don, mùi hành phi, mùi khói than tràn ra khỏi gian bếp nhỏ, bay lên tới chân tháp, lẫn vào gió biển.
Trong phòng máy, Vy ngồi ở cái bàn gỗ ông Cảnh kê cho cô, cạnh cái tủ xám. Cái kính của cô tắt. Trước mặt cô là một tờ giấy, thứ giấy học trò ông Cảnh lục ra trong cái rương cũ, và một cây bút chì của ông Quế.
Cô viết một chữ lên đầu trang. Rồi cô dừng lại, nhìn chữ đó rất lâu.
"Mẹ."
— Hết chương 24 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe