Chương 2: Cô kỹ sư mang theo danh mục
– Đoạn đường phía trước không có trong bản đồ. Quý khách vui lòng xuống xe.
Chiếc xe điện tự lái dừng lại ở chân dốc, giữa hai ruộng mía đã chặt trơ gốc, nói câu đó bằng giọng một cô gái rất lễ phép, rồi mở cửa. Lương Khả Vy ngồi thêm năm giây, nhìn con đường đất đỏ ngoằn ngoèo bò lên mũi đá đen phía trước, rồi xách cái va li nhỏ bước xuống. Cửa xe đóng lại sau lưng cô. Chiếc xe quay đầu, chạy mất, để lại một vệt bụi đỏ bám lên ống quần trắng của cô.
Cô hai mươi bảy tuổi, sinh ra và lớn lên ở thủ đô Vĩnh An, sáng nay dậy từ bốn giờ để kịp chuyến xe bay sớm từ thành phố Vọng Hải. Trong túi áo khoác của cô có một tấm thẻ kỹ sư của Trung tâm Khí tượng Quốc gia, và trong kính đeo mắt của cô, mở sẵn ở góc phải, là một tệp danh mục bốn mươi hai mục. Mục một: tủ máy TKV-3, số hiệu 0417.
Cô kéo va li lên dốc. Bánh va li vướng đá, cô phải xách lên. Gió từ biển thổi ngang, mang theo mùi gì đó vừa ngọt vừa khét, về sau cô mới biết là mùi mật mía từ lò nấu đường dưới xóm. Đi được nửa dốc, cô dừng thở. Từ đây nhìn xuống thấy cả vịnh: nước xanh ngọc, viền bọt trắng quanh chân mũi đá, những chiếc ghe sơn xanh đỏ nằm phơi trên bãi cát, mái tôn của xóm chài lấp lóa nắng.
Trên đỉnh dốc, một ông già đang tưới rau.
Ông mặc áo thun bạc màu, quần kaki xắn gối, chân đất, cầm cái thùng tưới bằng tôn móp méo, tưới một luống cải và hai luống hành trồng sát hàng rào trạm. Ông thấy cô từ xa, nhưng tưới cho xong luống cải mới đặt thùng xuống.
– Cháu chào bác. Cháu là Vy, kỹ sư Trung tâm cử về. Bác là bác Quế, trạm trưởng ạ?
– Ừ. – Ông Quế nhìn cái va li của cô, nhìn ống quần dính đất đỏ. – Xe bỏ cô dưới chân dốc hả?
– Vâng. Xe bảo đoạn này không có trong bản đồ.
– Có chớ. Năm 2052 người ta vẽ bản đồ, quên vẽ cái dốc ni. Mười năm rồi chưa ai sửa. – Ông chùi tay vào quần. – Vô đi. Phòng khách trên lầu hai, tui dọn rồi.
Vy theo ông vào. Nhà trạm là một khối nhà hai tầng sơn vàng nhạt, xây năm 2040, mái bằng, tường bên ngoài loang những vệt muối trắng. Cửa sổ có song sắt. Bên hông là tháp ăng-ten sóng ngắn cao hơn hai chục mét, dây néo kêu vù vù trong gió. Vườn khí tượng nằm phía sau, rào lưới, cỏ may cắt gọn. Phía sau nữa là một nhà kho mái tôn, cửa khóa bằng ổ khóa đồng.
Phòng trực ở tầng trệt, rộng hơn cô tưởng, mát. Một cái bàn dài, mấy cái ghế, một cái micro tròn đặt giữa bàn, một cái loa nhỏ gắn trên tường, một cái đồng hồ quả lắc bằng gỗ, một tấm hình người đàn bà đội nón lá. Tường bên kia dán một tấm bản đồ giấy vùng biển miền Duyên Hải, thứ cô chỉ còn thấy trong viện bảo tàng.
– Chào cô kỹ sư. – Cái loa trên tường lên tiếng. – Hôm nay gió đông ba mét một giây, nhiệt độ hai mươi chín độ hai. Cô đi bộ dốc chắc mệt. Trong tủ lạnh có nước dừa ông trạm để sẵn.
Vy hơi giật mình. Cô biết hệ thống biết nói, cô đã đọc hồ sơ. Nhưng cô không nghĩ nó sẽ nói trước.
– Chào hệ thống. – Cô đáp, giọng công việc.
– Tép.
– Sao ạ?
– Tên Tép. Ở đây ai cũng gọi Tép. Cô gọi hệ thống cũng được, Tép vẫn trả lời. Nhưng gọi Tép thì ngắn hơn hai chữ.
Ông Quế đi vào bếp lấy nước dừa, không nói gì. Vy nhìn theo lưng ông, rồi nhìn cái loa, rồi mở danh mục trong kính.
Buổi sáng, cô đi một vòng trạm với ông Quế. Ông đi trước, cô đi sau, đọc mục nào ông chỉ mục đó. Ông nói ít, chỉ đúng tên thiết bị, năm lắp, tình trạng. Nhiệt kế khô, nhiệt kế ướt, lắp lại năm 2050, tốt. Vũ lượng kế, tốt. Phong tốc kế, ổ bi kêu, đã báo thay hai lần, chưa ai thay. Nhật quang ký, tốt. Máy quang phổ mặt trời, ông dừng lại lâu hơn.
– Cái ni là cái người ta nói kính bẩn đó.
Vy cúi xuống nhìn. Mắt kính trong vắt, không một vệt bụi.
– Bác lau thường xuyên ạ?
– Ngày hai bận. Sáng sáu giờ, chiều bốn giờ.
– Kính sạch thì tốt ạ. – Vy nói, giọng nhẹ nhàng, như người ta nói với người già. – Nhưng bác ạ, kính sạch không có nghĩa là bộ cảm biến bên trong không bị trôi. Máy này lắp năm 2044, đã mười bảy năm. Cảm biến quang học để lâu ngoài nắng muối thì trôi số dần, mắt mình không thấy được.
Ông Quế nhìn cô một cái. Không phải cái nhìn giận. Là cái nhìn của người vừa nghe một câu đúng mà không muốn công nhận.
– Cô nói có lý.
– Cháu làm bên dữ liệu, bác ạ. Cháu biết bộ lọc này. Nó gắn cờ một trạm khi số của trạm lệch xa vệ tinh liên tục quá mười bốn ngày. Nó hiếm khi sai.
– Ừ.
Ông đi tiếp. Tới nhà kho, ông mở ổ khóa đồng. Bên trong tối, mát, mùi cao su cũ và mùi dầu máy. Trên những kệ sắt là các thùng gỗ đóng đinh, thùng giấy dán băng keo, cuộn dây, linh kiện. Ở góc trong cùng có một dãy mười hai cái hộp các-tông dài, xếp ngay ngắn, mỗi hộp in một con số. Cạnh đó là ba cái bình thép cao gần bằng người, sơn màu nâu, có van đồng.
– Đây là gì ạ? – Vy hỏi, mở danh mục.
– Bóng thám không. Mười hai quả, cao su, loại một ngàn hai trăm gam. Mười hai máy thám không đi kèm, loại có đầu đếm hạt bụi. Ba bình heli, mỗi bình bơm được hai quả.
– Năm nào ạ?
– Năm 2046. Hồi đó núi lửa bên kia biển phun, người ta đặt một lô để đo bụi. Về tới nơi thì bụi tan rồi, không ai dùng.
Vy đọc danh mục. Ở mục ba mươi mốt có ghi: "Vật tư tồn kho (bóng thám không, khí heli): chuyển về kho khu vực Vọng Hải."
– Theo danh mục thì số vật tư này sẽ chuyển về kho khu vực ạ. Cháu sẽ cho xe lên lấy vào tuần sau.
– Cái đó đừng đụng.
Ông nói không lớn, nhưng nói như đóng cái đinh.
– Bác ạ, đây là vật tư nhà nước, theo quy định khi trạm chuyển sang tự động thì…
– Cô ghi thì cô ghi. – Ông Quế nói. – Đụng thì không. Chừng nào trạm đóng thì cô lấy. Chừ trạm chưa đóng, tui còn là trạm trưởng.
Vy im. Cô ghi vào danh mục một dòng nhỏ: "Trạm trưởng đề nghị giữ đến ngày bàn giao." Rồi cô bước ra khỏi nhà kho, để ông Quế khóa cửa sau lưng.
Trưa, cô ngồi trong phòng trực, mở hồ sơ hệ thống của Tép trên kính. Ông Quế đi nằm. Ngoài trời nắng đổ trắng, ve kêu trên mấy cây phi lao dọc hàng rào. Cô đọc các mục: cấu hình, sức tính, đường truyền, số lần bảo trì. Đường truyền của trạm đã bị hạ xuống mức tối thiểu từ năm 2057, đủ để gửi số liệu quan trắc và thư điện tử. Sức tính của Tép bằng một phần mấy chục nghìn của một cụm máy nhỏ ở trung tâm. Nó chạy một mô hình dự báo vùng cho miền Duyên Hải, độ phân giải ba ki-lô-mét. Theo hồ sơ, độ chính xác ngắn hạn của nó trong năm năm gần đây cao hơn mức trung bình của các trạm cùng thế hệ.
Đúng mười ba giờ, cái loa trên tường kêu một tiếng tách nhỏ.
– Cô kỹ sư, Tép gửi gói Kênh Sáu Giờ.
– Kênh gì cơ?
– Kênh Sáu Giờ. Kênh trao đổi quan trắc quốc tế cũ. Mỗi trạm gửi một gói lúc sáu giờ giờ quốc tế, tức mười ba giờ bên mình.
Vy nhìn đồng hồ quả lắc. Mười ba giờ bốn phút.
– Mười ba giờ mà gọi là Sáu Giờ?
– Dạ. Ông trạm cũng hay trêu như rứa. Nhưng tên kênh là tên kênh. Ở bên kia quả đất cũng có trạm gửi vào lúc sáu giờ của họ, tức nửa đêm, có trạm gửi lúc ba giờ chiều. Kênh thì chỉ có một giờ.
Vy mở danh mục, tìm. Kênh trao đổi quan trắc cũ nằm ở mục mười chín, ghi chú: "Ngừng kết nối. Kênh không còn trong danh sách sử dụng của hệ thống điều phối."
– Ai đọc gói của bạn? – Cô hỏi. Cô không biết vì sao mình dùng chữ "bạn".
– Hồi Tép mới lắp, có ba trăm mười hai trạm cùng gửi, cùng đọc. Mười năm trước còn chín mươi. Năm năm trước còn mười bốn. Bây giờ thì Tép không biết. Ba năm nay không ai trả lời.
– Vậy bạn gửi làm gì?
Tép im một chút.
– Số liệu đo rồi thì phải gửi. Không ai đọc thì vẫn phải gửi. Lỡ một ngày nào đó có ai cần mà mình bỏ trống một ngày thì chuỗi số bị đứt. Chuỗi số đứt thì không nối lại được. Hai mươi năm nay Tép chưa bỏ ngày nào.
– Cuối gói có chữ gì kia?
– Chữ "chào".
Vy không nói gì. Cô ghi vào danh mục, mục mười chín: "Gói gửi hằng ngày lên kênh đã ngừng, tiêu tốn đường truyền không cần thiết, đề nghị cắt khi tháo dỡ." Rồi cô ngồi nhìn dòng chữ đó một lúc, không hiểu vì sao trong ngực mình có một chỗ hơi khó chịu.
Buổi chiều, cô làm việc với tủ máy dưới tầng hầm. Cầu thang xuống hầm hẹp, dốc, đèn huỳnh quang nhấp nháy. Dưới đó mát lạnh vì máy điều hòa chạy, có mùi kim loại và mùi bụi nóng. Cái tủ xám đặt giữa phòng trên bốn chân đế cao su, phía trước có ngọn đèn đỏ nháy ba giây một lần, phía sau là một chùm dây cáp đi vào tường. Trên nóc tủ có ai đó đặt một cái ly nhựa cắm ba cây nhang đã tắt và một trái quýt khô.
– Cái này của ai đây? – Vy hỏi.
– Của bà Don. – Tép nói. – Tết năm nào bà cũng lên thắp cho Tép ba cây nhang, nói "cho cái máy nó khỏi trật". Bà nói rứa mà năm nào Tép vẫn trật.
Vy suýt bật cười. Cô ghi số hiệu tủ, chụp tem bảo hành, đo kích thước cửa hầm. Cửa hầm rộng tám mươi phân, cái tủ rộng bảy mươi lăm. Hồi lắp người ta đưa tủ vào trước rồi mới xây nốt cửa.
Tối, ông Quế để cho cô một tô cháo cá trên bàn bếp, đậy bằng cái dĩa, kèm một tờ giấy viết tay: "Ăn đi, tui ngủ sớm." Cô ăn một mình trong phòng trực. Cháo cá nấu với hành lá và tiêu, ngọt, nóng. Cô ăn hết.
Cô làm việc tới khuya. Danh mục bốn mươi hai mục, cô đánh dấu xong mười sáu. Gió đêm đổi hướng, thổi lạch xạch cái cột gió ngoài vườn. Dưới xóm có tiếng chó sủa, rồi im.
Mười giờ bốn mươi, cái loa trong phòng trực kêu một tiếng tách. Không phải giờ gửi gói. Vy ngẩng lên.
– Cô kỹ sư còn thức không?
– Còn. Có chuyện gì à?
Tép không trả lời ngay. Cái im lần này lâu tới mức Vy tưởng loa hỏng.
– Kênh Sáu Giờ có người trả lời. – Tép nói. – Lần đầu tiên sau ba năm hai tháng.
Vy đứng dậy. Không rõ vì sao cô lại đứng dậy, như thể ai đó vừa gõ cửa.
– Ai trả lời?
– Một trạm tên Bangka. Cảng cá trên một hòn đảo giữa quần đảo Sila, bên kia biển. Một hệ thống cùng thế hệ với Tép, lắp năm 2042, cách đây một nghìn ba trăm cây số. Nó viết bằng ngôn ngữ của kênh, Tép dịch cho cô nghe.
– Đọc đi.
Tép đọc, chậm rãi, như đọc một bức thư.
– Chào Mũi Cỏ Ngựa. Đây là Bangka. Ba năm nay tôi tưởng chỉ còn mình tôi gửi. Hôm nay tôi đọc lại các gói cũ và thấy bạn vẫn gửi mỗi ngày. Số quang phổ của bạn, tôi thấy bị gắn cờ kính bẩn. Của tôi cũng vậy, hai trăm mười một ngày rồi. Người giữ trạm của tôi lau kính mỗi sáng. Ở đây kính cũng bẩn.
Vy đứng giữa phòng trực. Ngoài cửa sổ, ngọn đèn đỏ của tháp ăng-ten nháy trên nền trời đen. Trên tường, con lắc đồng của cái đồng hồ quả lắc đưa qua, đưa lại, chạy trước giờ thật bốn phút.
— Hết chương 2 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe