Chương 34: Đêm giỗ
Uyên lau di ảnh ba bằng cái khăn sạch nhúng nước ấm, vắt ráo, lau từ góc khung trên xuống, như hồi mười hai tuổi má dạy cô lau di ảnh ông bà nội.
Ba cô trong ảnh bốn mươi mấy tuổi, áo sơ mi trắng cài kín cổ, tóc chải ngôi bên, cười không thấy răng. Tấm ảnh chụp hồi ba còn khỏe, còn năm công ruộng ở Bờ Sậy, trước cái năm mất mùa, trước cái tháng ba cô đi hốt hụi bỏ thăm cao. Mười lăm năm nay, mỗi năm một lần, chiều hai mươi ba tháng Mười âm lịch, cô lau tấm ảnh này. Năm nay rơi vào thứ Ba, mùng một tháng Mười Hai.
Má ở dưới bếp từ sáng. Canh chua cá bông lau, thịt kho trứng, gà xé phay, xôi gấc, một dĩa bánh lá dừa má tự gói. Mâm cúng dọn trên bộ ván ngoài hiên, nhang khói lên tới mái tôn.
Khách giỗ không đông. Mấy bà bạn bán bánh của má ở chợ phường. Một ông chú họ ở Bờ Sậy lên. Rồi gần trưa, có tiếng xe máy dừng ở đầu hẻm, và thím Ba Thắm bước vô, khăn tang vẫn còn cột trên tóc, tay xách một cái giỏ nhựa đựng mấy cái bánh xèo gói lá chuối. Thằng Lành đi sau, cao hơn hồi tháng Tám, tóc cắt ngắn, mặc áo đồng phục trường cao đẳng nghề.
– Giỗ anh Tư Lực mà. – Thím Ba nói, ôm má Lan. – Hồi ổng còn, năm nào ổng cũng chở tui với thằng Lành lên. Năm nay ổng không chở được nữa, tui tự chạy.
Thím thắp nhang trước di ảnh ba Uyên, vái ba vái, lâu. Rồi thím đứng nhìn tấm ảnh, nói nhỏ, như nói với người trong ảnh:
– Anh Tư. Ổng xuống dưới đó rồi. Hai anh em gặp nhau thì nói chuyện đất Bờ Sậy cho đã nghen.
Uyên đứng sau lưng thím, cầm cái khăn ướt. Cô không nói gì.
Lúc ngồi vô mâm, má Lan nhìn quanh, đếm chén, đếm đũa. Má dọn dư một cái chén, một đôi đũa ở đầu ván. Má nhìn cái chén đó một lúc. Rồi má lặng lẽ cầm nó lên, đem cất vô bếp.
Mười lăm năm nay, năm nào giỗ ba, má Tám cũng tới. Áo bà ba lụa, một bao thư trắng, một giỏ trái cây lựa từng trái. Năm nào cũng ngồi ở đầu ván.
Không ai hỏi gì. Thím Ba gắp cho má Lan miếng cá.
Bốn giờ chiều thứ Ba, anh Kiệt ký phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Ngô Thị Kiều. Anh đọc hồ sơ lần cuối trong phòng làm việc, cửa đóng, rồi ký từng tờ, không nhanh, không chậm.
Cuộc đối chất giữa Lâm Văn Đởm và Hứa Văn Nhơn đã làm xong tuần trước, hai người ngồi đối diện nhau, cách một cái bàn. Đởm nói. Ông Tư nghe. Rồi ông Tư nói. Đởm nghe. Không ai nhìn ai. Tới cuối buổi, ông Tư mới ngẩng lên, nhìn người đàn ông đã giết em mình, và nói một câu không có trong câu hỏi nào: "Hai đứa mình đều bị bả nuôi." Đởm cúi đầu.
Rinh và Diệp đã đi An Giang về. Nhà người chết đuối tên Phan Thanh Tâm, cha mẹ già, khai năm 2018 có một người đàn bà lớn tuổi, nói giọng miệt dưới, tới mua bộ giấy tờ của con họ, trả bằng tiền mặt. Họ được coi sáu tấm ảnh. Họ chỉ một tấm.
Kế hoạch: sáu giờ sáng thứ Tư, đọc lệnh tại vựa Tám Kiều. Từ ba tuần nay, cửa vựa có người canh ngày đêm.
Khải về nhà lúc bảy giờ tối, ăn cơm với vợ con, đi ngủ sớm. Anh không ngủ được.
Rinh cũng không ngủ được. Anh nằm trên cái băng ghế dài ở trụ sở Công an xã Rạch Vồn, nơi tổ bắt người sẽ tập trung lúc năm giờ sáng, nghe muỗi vo ve, nghe tiếng nước sông vỗ bờ kè.
Một giờ sáng, anh ngồi dậy, đi ra bến chợ.
Anh đi ra đó để nhìn nước. Đó là cái thói quen anh học của anh Hai, sau bao nhiêu năm làm chung: tới chỗ nào có sông, đứng nhìn nước một lúc rồi mới nghĩ. Đêm hai mươi bốn tháng Mười âm, trăng hạ huyền mới ló sau hàng dừa nước bên kia sông. Nước đã bắt đầu ròng từ trước một giờ, chảy ra phía biển, đều và mạnh. Gió chướng đầu mùa thổi từ phía biển ngược vô, làm mặt sông lăn tăn những gợn sóng nhỏ ngược chiều dòng chảy.
Anh đứng ở bờ kè, nhìn dọc dãy vựa. Vựa Tám Kiều tối om. Phía trước, chỗ cổng sắt, có ánh đèn thuốc lá của hai người canh trong cái xe đậu bên kia đường.
Phía sau, ở bến ghe, có một chiếc ghe hàng lớn.
Rinh nhớ chiếc ghe đó. Chiều nay, lúc anh đi ngang, nó đã cặp ở bến sau vựa, mui cao, chất đầy sọt bưởi. Người làm công nói ghe đi Sài Gòn, sáng mai chạy. Bình thường. Vựa trái cây nào cũng có ghe đi Sài Gòn.
Một giờ bốn mươi, chiếc ghe tách bến.
Không nổ máy. Không đèn. Người trên ghe chỉ tháo dây, lấy sào đẩy mũi ra, rồi để nước ròng kéo đi. Chiếc ghe nặng nề trôi ra khỏi bến, xoay nhẹ, rồi xuôi theo dòng, êm như một bè lục bình lớn.
Rinh gọi Khải.
– Hai cái điện thoại của bả vẫn nằm ở vựa. – Diệp nói qua điện thoại lúc một giờ năm mươi, giọng còn ngái ngủ mà đã tỉnh hẳn. – Cả cái máy bấm. Không nhúc nhích.
– Bả để lại. – Khải nói. Anh đang chạy xe trên con đường tối om dọc sông về phía Rạch Vồn, gió chướng tạt vô mặt. – Bả biết mình coi cái gì.
Hai người canh cổng vựa vô kiểm buồng ngủ bà Tám. Cái giường trống. Cái mùng còn giăng. Cái gối còn lõm.
Ba giờ kém mười lăm, Khải tới bến chợ. Rinh đang đứng ở mép bờ kè, Hiển đứng cạnh, chiếc xuồng máy của Công an xã đã nổ máy dưới bến.
– Dạ, nó trôi theo nước ròng, men bờ bên này. – Rinh nói, chỉ về phía hạ nguồn tối đen. – Không dám ra giữa luồng vì sà lan chạy đêm. Nó trôi chừng nào xa khỏi chợ thì nổ máy.
– Đuổi theo thì sao?
– Dạ được, anh Hai. Mà ban đêm, giữa sông, nước ròng mạnh, ghe lớn, trên ghe có một bà già sáu mươi sáu tuổi tay còn băng. Mình áp sát, nó bẻ lái, nó lật, bả rớt xuống sông. – Rinh nói, giọng vẫn chậm. – Em không muốn kéo thêm một người từ dưới đáy lên nữa.
Khải nhìn nước.
– Em nói sao?
– Dạ, ghe đó chở nặng. Mớn sâu. Nước ròng mạnh tới ba giờ, rồi cạn dần tới gần bảy giờ. Từ đây xuống ba cây số là vàm Bần Quỳ. Ngay trước vàm có cái doi cát ngầm, nước cạn là lộ ra một vệt dài, ghe nhỏ đi được, ghe lớn chở nặng thì không. Người lạ không biết. Người chạy khúc này lâu năm biết. – Rinh ngừng một chút. – Mà người lái ghe đó, em không nghĩ là người chạy khúc này lâu năm.
– Sao em biết?
– Dạ, người chạy khúc này lâu năm thì không ai đi lúc nước ròng sâu nhứt với một chiếc ghe nặng như vậy.
Khải gọi anh Đạt. Gọi cảnh sát đường thủy, xin một chiếc ca nô đứng chờ ở khúc dưới vàm Bần Quỳ, không đèn, không còi. Rồi anh, Rinh, Hiển và hai người của đội lên xe, chạy đường bộ xuống vàm.
Ba giờ năm mươi, từ xa trên sông, có tiếng máy ghe nổ.
Bốn giờ hai mươi, tiếng máy đó gầm lên, rồi rú, rồi khục khặc, rồi tắt.
Trời bắt đầu xám lúc năm giờ rưỡi.
Khải đứng ở bến lò cũ vàm Bần Quỳ, chỗ cây cọc bê tông thứ hai còn một vệt sơn xanh mờ, chỗ bốn tháng trước có hai cái ly nhựa và một chai rượu thuốc. Nước đã ròng gần cạn. Dải bùn non dưới hàng bần ổi lộ ra loang loáng, rễ thở đâm lên chi chít như những hàng đinh tre.
Cách bờ chừng năm chục thước, trên cái doi cát vừa lộ, chiếc ghe hàng lớn nằm nghiêng, mũi cắm sâu vô cát. Mấy sọt bưởi trên sạp đã đổ, bưởi lăn lóc xuống bùn, xanh tròn, nằm rải rác như ai đánh rơi. Cây sào chống còn cắm ở mạn ghe, nghiêng nghiêng. Phía trên, những nhánh bần ổi già ngả ra mặt nước, che xuống mui ghe.
Một bóng người nhảy khỏi ghe, lội bùn chạy về phía hàng bần.
– Mến! – Hiển la lên.
Rinh đã lội xuống từ trước. Anh không chạy. Anh đi, cái kiểu đi của người sinh ra ở phum ven biển, bàn chân đặt nghiêng, không lún. Người đàn ông đội nón kết thì chạy, và chạy trong bùn non lúc nước cạn là chạy vô chỗ chết. Tới bước thứ mười, gã lún tới đầu gối. Tới bước thứ mười lăm, tới bắp đùi. Gã quờ tay níu một cái rễ bần, càng vùng càng lún.
Rinh tới, đứng trên một đám rễ thở, cúi xuống nắm cổ áo gã.
– Dạ, anh đứng yên. – Anh nói. – Đứng yên thì không lún nữa.
Khải lội ra chiếc ghe một mình.
Bùn ngập tới gần gối. Mỗi bước anh phải rút chân lên, nghe tiếng bùn ọc ạch. Anh tới mạn ghe, nắm lấy cây sào, đu người lên.
Bà Tám ngồi giữa sạp ghe, dưới mui, trên một cái ghế đẩu nhỏ. Áo bà ba đen. Khăn rằn quấn đầu. Cánh tay trái còn treo trên sợi khăn quàng cổ. Bà ngồi thẳng lưng, hai chân khép lại, như người ngồi chờ đò.
Bà không chạy. Bà không đứng dậy. Bà ngẩng lên nhìn anh.
– Cậu Khải. – Bà nói.
Khải đứng trên sạp ghe, ướt bùn tới đùi. Anh nói tên mình, chức vụ, đơn vị. Anh đọc quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Ngô Thị Kiều, đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phê chuẩn. Anh đọc đủ chữ, không thêm, không bớt.
Bà Tám nghe hết. Bà không gật đầu, không lắc đầu.
– Nước ròng sớm quá. – Bà nói, khi anh đọc xong. – Thằng Mến nó không coi nước.
Anh để ý bàn tay phải của bà. Nó nằm trên đùi, khép lại. Không phải khép hờ. Khép chặt, các ngón tay co lại quanh một vật gì đó tròn.
Phía trên đầu bà, những nhánh bần ổi chĩa xuống sát mui ghe. Lúc ghe đâm vô doi, chắc nó đã quẹt vô mấy nhánh đó. Trên sạp ghe, lẫn giữa lá bần rụng, có mấy trái bần tròn, xanh sẫm, đài ôm sát vô trái như mấy ngón tay nắm.
– Bà mở tay ra. – Khải nói.
Bà Tám nhìn anh. Rồi bà mở tay.
Trong lòng bàn tay nhỏ, khô, nhăn nheo của bà là một trái bần ổi, tròn như trái ổi nhỏ, còn dính một đoạn cuống ngắn.
– Nó rớt trúng tay tui. – Bà nói. – Tui ngồi đây hai tiếng, không biết làm gì, tui cầm.
Bà nghiêng bàn tay. Trái bần lăn ra khỏi lòng tay bà, rơi xuống sạp ghe, lăn một vòng, nằm im giữa mấy trái bưởi.
Sáu giờ mười, ở phường, má Lan còn ngủ sau một ngày giỗ mệt. Trên bàn thờ, ba cây nhang cuối cùng đã tàn từ khuya, chỉ còn mấy que đỏ cắm trong bát nhang. Uyên ngồi ở bộ ván ngoài hiên, chỗ hôm qua dọn mâm cúng, cầm ly trà nguội. Cô đã thức từ bốn giờ. Cô không biết vì sao.
Điện thoại rung.
– Bắt rồi. – Giọng Khải, khàn, có tiếng gió sông phía sau. – Ở vàm Bần Quỳ. Ghe mắc doi. Dưới hàng bần ổi.
Uyên không nói gì một lúc.
– Bả có nói gì không anh?
Đầu dây bên kia im. Cô nghe tiếng bùn ọc ạch, tiếng ai đó gọi nhau, tiếng máy ca nô nổ xa xa.
– Lúc dắt bả lên bờ, – Khải nói, – bả hỏi anh một câu. Bả hỏi hôm qua giỗ ba em có đông không.
— Hết chương 34 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe