Chương 21: Trung thu ở vựa trái cây
Cái lồng đèn ngôi sao của một thằng nhỏ bắt lửa lúc bảy giờ kém mười, khi Uyên vừa dắt má bước qua cổng vựa.
Ngọn nến bên trong nghiêng, liếm vô lớp giấy kiếng đỏ, và trong một cái chớp mắt cả ngôi sao năm cánh bùng lên thành một quả cầu lửa trên đầu cây tre. Thằng nhỏ chừng năm tuổi đứng chết trân, tay còn cầm cán, miệng há ra mà chưa kịp khóc. Đám con nít chung quanh la lên.
Ngân tới trước mọi người. Cô giật cây tre khỏi tay thằng nhỏ, quăng cái lồng đèn đang cháy xuống nền xi măng, lấy dép đập ba cái. Lửa tắt. Còn lại một bộ khung tre đen thui và mùi giấy khét. Thằng nhỏ lúc đó mới khóc, khóc to như bị đánh.
– Thôi, thôi, có gì đâu con. – Bà Tám đi ra, ôm thằng nhỏ vô lòng, vỗ lưng. – Ngân ơi, lấy cho em cái lồng đèn khác. Cái con cá chép đó. Lựa cái nào đẹp nhứt đó.
Ngân dạ, đi vô kho. Lúc đi ngang Uyên, cô gật đầu chào, mắt không cười.
Sân vựa Tám Kiều tối rằm tháng Tám đông như chợ phiên. Người ta dọn hết sọt trái cây vô kho, quét sạch nền, giăng mấy dây đèn trái ớt từ mái tôn ra tới cổng. Ở giữa sân, hai cái bàn dài trải khăn đỏ, chất đầy bánh nướng, bánh dẻo, bưởi da xanh lột sẵn từng múi, khóm cắt khía, chuối, mía ghim. Con của mấy chục người làm công trong vựa, đứa lớn đứa nhỏ, chạy tung tăng với những cái lồng đèn ngôi sao, con cá, con thỏ, có đứa cầm lồng đèn điện phát nhạc inh ỏi.
Má Lan được bà Tám kéo vô ngồi ở bộ ván đầu hiên, chỗ mấy bà già trong xóm. Uyên ngồi ghế đẩu bên cạnh. Bà Tám đi tới đi lui, áo bà ba lụa màu ngà, tóc bới gọn, tay lúc nào cũng cầm cái gì: đĩa bánh, bình trà, cái khăn lau tay cho con nít. Người làm công gọi bà là "má Tám", con nít gọi bà là "bà Tám", mấy bà già trong xóm gọi bà là "chị Tám", và bà trả lời từng người bằng tên của họ.
– Mười mấy năm rồi đó Uyên. – Má Lan nói nhỏ với con, mắt nhìn theo bà Tám. – Năm nào má Tám cũng làm. Hồi má còn làm ngoài này, con Út nhà chị Sáu cân trái được cái lồng đèn con thỏ, nó giữ tới giờ.
Uyên gật đầu. Cô cầm miếng bánh dẻo bà Tám dúi vô tay, bẻ một góc, ăn. Nhân đậu xanh, mỡ đường, thơm mùi lá dứa. Cô nhai chậm.
Cô đã nói với mình từ chiều: tối nay cô là đứa con của má Lan, đi theo má xuống ăn Trung thu ở nhà người quen. Không phải kiểm sát viên. Không biết gì về cái bản đồ chợ Rạch Vồn có vòng tròn đỏ quanh cổng vựa. Nhưng ngồi ở đây, cách cái cổng sắt chừng ba chục bước, cô vẫn thấy nó. Cô thấy cả cái quán cà phê bên kia đường, giờ đã đóng cửa, và mái hiên tiệm vàng.
Gần tám giờ, bà Tám mới ngồi xuống. Bà kéo cái ghế nhựa lại sát ghế Uyên, rót cho cô ly trà nóng.
– Con ăn bánh nữa đi. Mấy bữa nay con ốm quá.
– Dạ, con ăn rồi má Tám.
Bà Tám ngó ra sân. Mấy đứa nhỏ đang rước đèn vòng vòng quanh hai cái bàn, đứa lớn dẫn đầu, hát bài rước đèn lạc giọng.
– Ngoài chợ người ta đồn, – bà nói, giọng hạ xuống chỉ đủ cho Uyên nghe, – cái xác trong lò bên Lò Đỏ là thằng Nghĩa, em ông Tư. Con Huê vợ ổng đi thăm nuôi về, ngồi khóc ngoài tiệm cả buổi. Có thiệt không con?
– Con không nói được má Tám.
– Ừ. Má biết. Má không hỏi. – Bà Tám thở dài, xoay xoay ly trà trong tay. – Tội nghiệp. Ông Tư làm ăn thất đức, mà thằng em nó chết vậy thì… Má cũng không biết nói sao.
Uyên không nói gì.
– Mà vậy thì không phải ba con Ngân. – Bà Tám nói tiếp, chậm. – Mấy bữa trước cậu Khải có gọi, nói mẫu gen của nó không khớp. Con nhỏ nghe xong ngồi cả buổi. Má tưởng nó khóc. Nó không khóc. Nó cứ ngồi vậy.
Bà ngừng một chút, như chờ Uyên nói gì đó. Uyên uống ngụm trà.
– Vậy ba nó đi đâu hả con? – Bà Tám hỏi, nhẹ như hỏi chuyện thời tiết. – Mấy cậu công an có nói gì không?
Uyên đặt ly trà xuống mép ván.
– Con không biết má Tám. Vụ đó con không phụ trách. – Đó không hẳn là thật, nhưng cũng không hẳn là dối. – Má Tám có nghe ai nói gì không má?
Bà Tám nhìn cô. Một giây. Rồi bà cười, vỗ lên đầu gối cô.
– Má mà nghe gì thì má đi báo cậu Khải liền chớ con. Ngồi đây hỏi con làm chi.
Bà đứng dậy, kêu một đứa làm công đem thêm bưởi ra bàn.
Uyên ngồi yên. Cô thấy tay mình hơi lạnh dù ly trà còn nóng. Không phải vì câu hỏi. Người như bà Tám, nuôi con bé Ngân tám năm, hỏi câu đó là đương nhiên. Cô lạnh tay vì chính cô. Vì cô đã ngồi đây, trước mặt người đã lo cho cô ăn học, đã đứng ở cổng nhà cô một chiều mưa, và cô đã chọn từng chữ để không nói gì cả. Cô không quen làm vậy với bà.
Lúc đó có một chiếc ghe hàng cặp vô bến sau vựa.
Uyên thấy nó qua khoảng trống giữa hai dãy kho, khi đèn ghe quét một vệt vàng lên mấy cây cọc bến. Một chiếc ghe gỗ cỡ trung, mui thấp, chở đầy bưởi. Một người đàn ông cao, ốm, đội nón tai bèo, đứng ở lái, cột dây vô cọc. Trên mũi ghe, một con chó mực ngồi chồm hổm, tai dựng, ngó lên sân vựa đầy đèn và con nít.
Hai người làm công đi ra bến, bắt đầu khiêng bưởi lên. Người đàn ông cao không lên bờ. Ông đứng dưới ghe chuyền từng sọt, cúi đầu, cái vành nón che gần hết mặt. Ánh đèn sân chỉ chiếu tới nửa người ông: một bộ râu lởm chởm, hai cánh tay dài, gân guốc.
– Tâm ơi! – Bà Tám gọi từ giữa sân, không đi ra. – Bỏ hàng xong về sớm nghen con. Nước ròng rồi đó.
– Dạ. – Tiếng đáp từ dưới bến, trầm, ngắn.
Ngân đi ra từ phía kho. Cô cầm một cái đĩa nhựa, trên đó có hai cái bánh nướng và mấy múi bưởi. Cô đi xuống bến, đứng trên bậc xi măng cuối cùng, đưa cái đĩa xuống. Người đàn ông dưới ghe ngừng tay, cầm lấy. Ông nói gì đó. Ngân đứng đó một lúc, lâu hơn thời gian cần để đưa một cái đĩa bánh. Con chó mực bước từ mũi ghe lên bậc xi măng, dụi đầu vô chân cô, và cô cúi xuống vuốt đầu nó.
Rồi cô quay lên. Người đàn ông tháo dây, đẩy ghe ra. Tiếng máy nổ lụp bụp, chiếc ghe trôi ra giữa sông, đèn ghe nhỏ dần về phía hạ nguồn.
– Thằng Tâm chạy ghe bỏ mối cho mình mấy năm nay rồi. – Má Lan nói, theo mắt con nhìn ra bến. – Hồi má còn làm ở đây, nó đã bỏ mối rồi. Hiền lắm, ít nói. Bỏ cho mấy vựa ngoài chợ.
Uyên gật đầu, và cô quên nó, như người ta quên một chiếc ghe đi ngang.
Chín giờ, mấy đứa nhỏ đã thấm mệt. Đứa ngồi bệt dưới đất ăn bánh, đứa ngủ gục trên vai cha mẹ. Trăng rằm đã lên cao khỏi hàng dừa nước bên kia sông, tròn và vàng như cái đĩa đồng, rọi một vệt dài trên mặt nước đang ròng.
Uyên đi ra phía sau vựa, chỗ hai cây mai già cạnh bể nước mưa, để rửa tay. Ngân đứng đó, dựa lưng vô gốc mai, nhìn ra sông. Cô gái mười chín tuổi, mặc áo thun trắng, quần jean, tóc cột thấp, cặp kính cận phản chiếu ánh trăng thành hai đốm sáng.
– Em không vô ăn bánh? – Uyên hỏi.
– Dạ em ăn rồi chị.
Uyên mở vòi bể nước, rửa tay. Nước mưa mát lạnh. Cô lau tay vô vạt áo, định đi vô. Ngân lên tiếng, không quay lại.
– Chị Uyên. Em hỏi chị một câu được không?
– Em hỏi đi.
Ngân im một lúc. Ngoài sông, một chiếc ghe cát chạy ngang, sóng đánh vô bờ kè lách chách.
– Nếu ba em còn sống, – Ngân nói, giọng đều, như đã tập nói câu này nhiều lần trong đầu, – mà ba em có tội. Thì em có tội không chị?
Uyên đứng yên.
Cô đã được hỏi câu này nhiều lần trong nghề, bằng nhiều kiểu. Vợ bị can hỏi. Mẹ bị cáo hỏi. Con của người bị hại hỏi. Cô có sẵn câu trả lời cho họ, gọn, đúng luật, không sai một chữ. Nhưng cô chưa từng được hỏi câu đó ở dưới gốc mai nhà người đã nuôi mình ăn học, bởi một đứa con gái mà cô không biết đang muốn nghe điều gì.
– Ngân. – Cô nói. – Chị trả lời em hai lần. Lần đầu là chị làm ở Viện, chị nói theo luật.
– Dạ.
– Con không mang tội của cha. Ai làm thì người đó chịu. Em không làm gì, em không có tội gì hết. Còn nếu em biết mà không nói, thì luật có cân nhắc cho người trong nhà, cha con, vợ chồng. Có chỗ luật thông cảm, có chỗ luật không thông cảm được, tùy chuyện đó nặng tới đâu. Chị không nói trước được cho em. Nhưng nếu em có chuyện gì muốn nói, em tới gặp chị, chị chỉ cho em đi đâu, nói với ai, cho đúng.
Ngân không nói gì. Cô vẫn nhìn ra sông.
– Còn lần thứ hai? – Cô hỏi.
– Lần thứ hai chị không nói theo luật. – Uyên nói. – Em không có tội vì thương ba em.
Ngân quay lại. Lần đầu tiên tối nay cô nhìn thẳng Uyên. Sau cặp kính, hai mắt cô đỏ, mà không ướt. Cô mở miệng, như sắp nói tiếp. Rồi cô nhìn qua vai Uyên, về phía sân vựa, và cô ngậm miệng lại.
Uyên quay đầu.
Bà Tám đứng ở mép hiên, cách đó chừng hai chục bước, dưới dây đèn trái ớt. Bà không đi tới. Bà chỉ đứng đó, tay cầm cái bình trà, nhìn về phía hai người. Ánh đèn đỏ từ sau lưng làm mặt bà tối đi, Uyên không thấy được nét mặt. Một lúc, bà quay vô, đi về phía bàn bánh, rót trà cho một bà già trong xóm.
– Em vô dọn bàn. – Ngân nói, và đi ngang qua Uyên, không nhìn.
Mười giờ kém, Uyên chở má về.
Bà Tám ra tới cổng tiễn, như mọi lần. Bà dúi vô tay Uyên một cái hộp giấy cột nơ đỏ, nặng tay.
– Bốn cái bánh dẻo, hai cái bánh nướng thập cẩm. Con đem về ăn sáng. Mấy bữa nay con ốm quá, con Uyên. Làm việc gì thì làm, phải ăn.
– Dạ. Con cảm ơn má Tám.
Bà Tám nắm tay cô, bàn tay khô, nhỏ, ấm, như mọi lần. Bà không nói thêm gì. Rồi bà quay qua ôm má Lan, hai bà già lại cười, lại hẹn, lại dặn đi đường cẩn thận.
Uyên dắt xe ra. Má Lan đã ngồi lên yên sau, ôm cái hộp bánh vô lòng. Uyên nổ máy.
Lúc đó Ngân chạy ra.
Cô chạy từ trong sân ra cổng, tay còn cầm cái giẻ lau bàn, như vừa nhớ ra điều gì. Bà Tám đã quay vô trong. Ngân đứng sát bên xe Uyên, ngay chỗ đèn cổng không rọi tới, cúi xuống như để chỉnh lại cái hộp bánh trong tay má Lan cho khỏi rớt.
– Chị Uyên. – Cô nói, nhỏ tới mức tiếng máy xe gần như nuốt mất. – Sáng mùng hai năm nay, chị đừng cho ai tới cổng vựa nghen chị.
Rồi cô đứng thẳng dậy, lùi lại, giơ tay chào má Lan, và đi vô.
Uyên ngồi trên xe, máy vẫn nổ, hai tay cầm lái. Ánh trăng rằm rọi xuống con đường bê tông dọc bờ kè, sáng tới mức cô thấy được cái bóng mình và má in trên mặt đường.
– Con Ngân nói gì vậy con? – Má Lan hỏi.
– Dạ không có gì má. – Uyên nói. – Nó dặn mình đi đường cẩn thận.
Cô nhả thắng. Chiếc xe lăn bánh. Sau lưng cô, cái cổng sắt vựa Tám Kiều khép lại, và ở đâu đó trong sân, tiếng một đứa nhỏ còn hát lạc giọng bài rước đèn.
— Hết chương 21 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe