Chương 20: Người anh
– Tui là đầu. – Ông Tư nói. – Cậu ghi đi. Mấy đứa kia làm theo lời tui hết.
Chín giờ sáng thứ Hai, buồng hỏi cung trại tạm giam, đèn đỏ sáng. Chiều thứ Sáu, luật sư của ông đã gọi cho Khải: thân chủ tôi xin được khai thêm. Khải chờ qua hai ngày cuối tuần, không giục. Người muốn khai mà bị giục thì hay khai vội, mà khai vội thì hay khai sai.
Ông Tư đã cạo râu. Ông ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên bàn, mấy ngón tay đan vào nhau. Hai con mắt còn sưng, nhưng giọng ông đã lấy lại cái chất cộc lốc của người quen ra lệnh.
Và ông khai. Nhiều hơn Khải tưởng, và ít hơn Khải cần.
Ông khai năm 2017 ông mua tấm bản đồ tuyến của thằng Đởm. Ông khai từ đó tiệm ông gom đất trên tuyến: ai nợ tiệm mà có đất nằm trên vệt đường, thì thằng Vũ đem giấy tới. Người đứng tên là người làm công, người chạy xe ôm, người bán vé số, mỗi tháng trả mấy triệu. Ông khai thằng Lép cầm giấy, thằng Rô chạy vỏ đưa đón. Ông khai ông Ba Sển đi khắp xóm nói chuyện đi thưa, nói với ông Ba Tý, nói với cả mấy người khác, nên ông biểu thằng Lép đem hợp đồng xuống bến lò tối thứ Tư "nói chuyện".
– Nói chuyện là sao?
– Là nói. Ổng ký thì ổng có tiền, có chỗ yên. Ổng không ký thì thôi, để từ từ.
– Thôi là thôi thiệt, hay thôi rồi tính cách khác?
Ông Tư nhìn Khải.
– Tui không biểu nó xô ai xuống sông. – Ông nói. – Cậu hỏi thằng Lép.
– Mười hai giờ ba mươi hai khuya hôm đó, Hai Lép gọi một số, bốn mươi tám giây. Số đó của ai?
– Của tui. Máy riêng. – Ông Tư không chờ hỏi tiếp. – Nó gọi nói "ổng té rồi anh Tư". Tui hỏi té sao. Nó nói té xuống sông, không thấy lên. Tui biểu nó đi đi, làm gì thì làm, đừng để ai thấy.
– Sáng hôm sau, – Khải hỏi, – Hai Lép có tới gặp ông không?
– Có. Sáu giờ rưỡi nó tới tiệm, mặt cắt không ra máu. Kể lại. Tui biểu về nhà nằm im.
– Ông còn kể chuyện đó với ai nữa không?
Ông Tư im một nhịp, ngắn tới mức nếu không chú ý thì không thấy.
– Không.
Rồi tới năm 2018.
Ông Tư nói chậm hơn. Ông nói thằng Đởm bán bản đồ xong, mấy tháng sau bị công ty đuổi, quay ra đòi thêm. Nó gọi tới tiệm, nói người ta sắp ôm cả chục tỷ, nó phải được cả tỷ, không thì nó đem bản đồ đi nộp, nói ra hết. Tối thứ Bảy đó nó lại gọi.
– Tui nghe máy. – Ông nói. – Cậu hỏi hôm thứ Tư, tui nói không nhớ. Tui nhớ. Tui nghe máy. Nó nói tối nay nó xuống Lò Đỏ coi đất bên đó, mai nó ghé lấy tiền, không có thì thôi.
– Rồi ông làm gì?
– Tui gọi thằng Nghĩa. – Giọng ông khàn đi. – Tui biểu nó xuống Lò Đỏ kiếm thằng Đởm, dằn mặt nó. Dằn mặt thôi. Cho nó sợ. Tui không biểu nó mang xà beng. Tui thề với cậu, tui không biểu nó mang cái gì hết.
– Ổng mang xà beng.
– Tui không biết. – Ông Tư nói, và hai bàn tay đan trên bàn siết lại tới trắng các khớp. – Tui không biết.
– Sau đêm đó, ông Nghĩa không về.
– Không về. Tui gọi không được. Tui đi kiếm ở lò ông Sáu, ông Sáu nói không thấy. Mấy bữa sau, người ta nói với tui… – Ông khựng lại, như hôm thứ Năm. – Người ta nói nó đánh lộn với thằng Đởm, đánh thằng Đởm bị thương, sợ nên chạy qua bển. Có người thấy nó qua cửa khẩu.
– Người ta là ai?
Ông Tư nhìn xuống bàn.
– Tui nói rồi. Tui là đầu. Mấy chuyện đó tui chịu hết.
– Ông Tư. – Khải nói, nhỏ. – Người đó nói dối ông tám năm. Em ông nằm trong ống khói tám năm, ông không thắp được cây nhang. Ông còn giữ cho người đó làm gì?
Ông Tư không trả lời. Cái cổ ngắn của ông giật giật như lần ở tiệm.
Uyên nhìn ông. Cô thấy điều mà cô đã thấy dưới gốc me: người đàn ông này không sợ tù. Nhưng cô thấy thêm một điều. Ông không chỉ sợ người kia. Ông còn mang ơn người kia, hoặc từng mang ơn, và cái ơn đó nặng tới mức chết một đứa em vẫn chưa đè bẹp được nó.
Gần cuối buổi, Khải đặt lên bàn một tờ giấy khác.
– Một số di động trả trước, đăng ký tên một người ở An Giang. Đêm mười tháng Ba năm 2018, mười một giờ năm mươi tám, ông Đởm gọi số này. Từ năm 2018 tới nay, số này gọi cho máy riêng của ông hàng tháng. Số này của ai?
Ông Tư nhìn con số. Lâu.
– Của tui. – Ông nói.
– Ông ở trong trại từ sáng thứ Ba tuần trước. – Khải nói. – Sáng thứ Năm, số này còn gọi đi Campuchia. Sáng thứ Sáu còn gọi. Ở trong này ông có điện thoại không?
Ông Tư im.
– Ai cầm cái máy đó?
– Tui không nói nữa. – Ông Tư nói, rồi quay qua luật sư. – Tui mệt.
Lúc được dẫn ra, ông dừng lại ở cửa buồng, không quay đầu.
– Cậu Khải. Thằng Nghĩa mặc đồ của thằng kia hả cậu? Cái áo ca rô?
– Có mẩu vải ca rô.
– Nó ghét áo ca rô. – Ông Tư nói. – Hồi nhỏ má tui mua cho nó cái áo ca rô, nó cắt ra làm giẻ lau xe.
Kết quả từ nhà mạng về chiều thứ Sáu tuần trước, đúng hai tuần. Diệp đã thức hai đêm để đọc nó, và chiều thứ Hai, sau buổi hỏi cung, cô trải nó ra trên bàn họp như người ta trải một tấm lưới vừa kéo lên.
– Số An Giang. – Cô nói. – Tám năm, nó nằm ở đúng một chỗ. Trạm phát sóng khu chợ Rạch Vồn. Ban ngày ở đó, ban đêm cũng ở đó. Đi khỏi chợ mấy lần, lần nào cũng về trong ngày. Trạm đó phủ cái chợ, dãy vựa, dãy tiệm, với chừng ba bốn trăm hộ dân hai bên bờ kè.
– Nó gọi cho ai?
– Phần lớn là số Campuchia. Mấy chục số bên đó, gọi đều, nói chuyện ngắn. Em tra thử vài số, toàn là số người buôn trái cây ở bển. – Cô lật trang. – Trong nước thì ít. Vài số trả trước. Trong đó có một số nó gọi nhiều nhất, tháng nào cũng gọi. Là máy riêng của ông Tư mà sáng nay ổng nhận đó sếp. Cũng là số Hai Lép gọi lúc mười hai giờ ba mươi hai.
Khải gật đầu.
– Còn cái này nữa. – Diệp rút ra một tờ, đặt lên trên cùng. – Mỗi cái máy có một số riêng, sim nào gắn vô thì nhà mạng ghi lại số máy. Số An Giang mấy năm nay chỉ nằm trong một cái máy. Mà cái máy đó, em thấy nó ở thêm một chỗ nữa.
Cô gõ ngón tay lên tờ giấy.
– Cái sim rác gọi Sáu Rô lúc chín giờ bốn mươi mốt tối hai mươi hai tháng Tám. Cái sim kích hoạt từ tháng Năm, gọi sáu cuộc trong đời. Nó được gắn vô đúng cái máy đó. Mỗi lần sim rác lên mạng, số An Giang mất sóng vài phút. Rút sim này ra, gắn sim kia vô. Một cái máy, hai cái sim.
Rinh đứng dựa tường, khoanh tay. Anh Đạt ngồi đầu bàn, tháo kính.
– Năm cuộc kia của sim rác gọi cho ai? – Ông hỏi.
– Cho máy riêng của ông Tư hết. Từ tháng Năm tới tối mùng năm tháng Tám. Cuộc cuối là tám giờ kém năm tối hôm đó.
Bốn mươi lăm phút trước khi Hai Lép gọi chú Ba Sển.
Không ai nói gì một lúc. Khải đứng dậy, đi tới tấm bảng, viết một dòng mới dưới cái tên Hứa Văn Nghĩa: "Người cầm máy An Giang". Rồi anh nối nó bằng ba mũi tên: tới cuộc gọi của Đởm năm 2018, tới máy riêng của Tư Nhơn, tới Sáu Rô đêm hai mươi hai tháng Tám.
– Người này cứu ông Đởm năm 2018. – Anh nói. – Người này ra lệnh cho Tư Nhơn. Người này báo cho Sáu Rô đi kiếm thằng Quẹo hai tiếng rưỡi trước khi mình tới. Và người này ở ngay chợ Rạch Vồn.
– "Bả". – Rinh nói.
– Tư Nhơn nhận cái số là của ổng, – Diệp nói, – mà ổng ở trong trại thì số đó vẫn gọi. Sếp, người ở sát ông Tư nhứt, cùng chợ, cùng nhà, là vợ ổng.
Khải không trả lời liền.
Lê Thị Huê, năm mươi tư tuổi, vợ Tư Nhơn, bán tạp hóa kế bên tiệm cầm đồ, em gái ruột ông Sáu Hột. Cái lò nơi người ta bít một cái xác vô ống khói là lò của anh ruột bà. Và hôm ở trụ sở, khi Khải hỏi ông Tư "Bả là ai?", ông Tư đã cười: "Vợ tui hả?"
– Điện thoại của bà Huê nằm ở trạm nào? – Anh hỏi.
– Cũng trạm chợ Rạch Vồn, sếp. Bả ở đó mà.
– Thì cả mấy trăm nhà ở đó.
– Dạ.
Anh Đạt đeo kính lại.
– Chưa đụng. – Ông nói. – Không mời, không hỏi, không ai ra chợ Rạch Vồn hỏi han gì về một cái máy bấm hay một cái số An Giang. Hỏi một người ở chợ là trưa cả chợ biết. Con Diệp coi tiếp cái số đó đi đâu, gọi ai, xin thêm dữ liệu cho đủ. Mình chờ.
Mấy ngày sau đó, những mảnh còn lại lần lượt rơi vào chỗ.
Sáng thứ Ba, chị Lài gọi: mẫu gen của Lâm Ngọc Ngân không có quan hệ cha con với bộ hài cốt. Kết quả so với mẫu của ông Tư còn chừng một tuần. Cũng sáng đó, trong một buổi hỏi riêng, ông Tư nói em ông mất một cái răng hàm dưới năm 2010 vì đánh lộn ở bến đò, và có trám hai cái răng ở một phòng nha ngoài chợ. Chị Lài nghe, nói một câu ngắn: "Vậy là khớp thêm một chỗ."
Chiều thứ Ba, Hai Lép được cho coi bản ghi lời khai của ông Tư, phần nói về tối mùng năm. Hắn đọc lâu. Rồi hắn khai lại. Không có món nợ ba chục triệu nào. Hắn đem tờ hợp đồng xuống bến lò, nhậu với chú Ba Sển cho chú mềm lòng, rồi đưa giấy. Chú đọc, đứng dậy, chửi, nói chú đi thưa. Hắn níu tay chú, giành tờ giấy, hai người giằng co trên mạn ghe. Hắn xô. Chú té.
– Rồi sao? – Khải hỏi.
– Tui nói rồi. Tối thui. Tui không thấy gì.
Khải nhìn hắn. Ngón trỏ cụt của hắn nằm im trên mặt bàn, không gõ. Hắn đã khai ra cái động cơ, mà cái động cơ là thứ người ta sợ khai nhất. Vậy mà tới đoạn chú Ba ở dưới nước, hắn vẫn đóng cửa lại. Khải không ép. Anh ghi vào sổ riêng: "Lép vẫn giữ một đoạn. Đoạn dưới nước."
Thứ Tư, Cò Vũ ra trình diện, có luật sư đi cùng, áo sơ mi trắng, tóc vuốt keo, sau mười ngày trốn trên thành phố. Anh ta khai mười một người đứng tên, trong đó có Võ Văn Khoa, người làm công lò bánh tráng không biết chữ, lãnh ba triệu một tháng. Cái gì cũng "chú Tư biểu". Hỏi tới cái số An Giang, anh ta ngơ ngác thật lòng.
Cũng thứ Tư, Hiển báo lên: cái bao hai trăm triệu thằng Quẹo để trước cửa, ông Ba Tý đã tự mang lên nộp Công an xã từ tuần trước, không thiếu một tờ. "Ổng nói để trong nhà ổng không ngủ được."
Tối thứ Năm, đội trọng án họp bàn chuyện sáng mùng hai tháng Mười. Lần này có Uyên.
Cái bản đồ trên tấm bảng giờ là bản đồ chợ Rạch Vồn, Diệp in từ ảnh vệ tinh, phóng to. Vựa Tám Kiều nằm giữa dãy vựa dọc bờ kè, cổng sắt ngó ra con đường bê tông, sau lưng là bến ghe. Khải lấy bút đỏ khoanh mấy chỗ: quán cà phê bên kia đường, mở cửa từ bốn giờ sáng; mái hiên tiệm vàng đóng cửa sát đó; một chiếc ghe hàng neo ở bến dưới.
– Ba giờ sáng thứ Sáu tuần sau, mình vô vị trí. – Anh nói. – Anh, Rinh, Diệp, thêm hai người của đội. Không có Công an xã. Không báo ai ngoài phòng này. Người tới để bông, mình không bắt ngay. Mình coi người đó đi đâu.
– Nếu là chính ông Đởm? – Diệp hỏi.
– Thì mình theo tới chỗ ổng ở. Ổng sống tám năm dưới một cái tên khác, ổng có nhà, có việc, có người quen. Bắt ở cổng vựa thì chỉ bắt được một người. Theo về nhà thì bắt được cả cái tám năm.
Uyên ngồi ở cuối bàn, như hôm Diệp đọc cái tên ba cô. Cô nghe. Cô không hỏi gì nhiều. Cô chỉ hỏi một câu, về chuyện nếu người tới để bông là một người khác, một người được thuê, thì tổ nào theo người đó.
Họp xong, mọi người ra về. Khải đi chậm lại ở cầu thang, chờ cô.
– Uyên. – Anh nói. – Chuyện sáng mùng hai…
– Em biết. – Cô nói.
Cô nói "em". Cô không định nói vậy. Chữ đó ra trước khi cô kịp chọn chữ khác, và đã ra rồi thì cô để nó đó.
– Em biết. – Cô lặp lại. – Không ai biết hết, ngoài phòng này.
Anh nhìn cô một lúc, gật đầu, rồi đi xuống trước.
Cô đứng lại ở chiếu nghỉ cầu thang, mở điện thoại. Một cuộc gọi nhỡ lúc bảy giờ mười, trong lúc họp. Tên trong danh bạ là "Má Tám". Và một tin nhắn thoại, giọng bà Tám trầm ấm, có tiếng chợ ồn ồn phía sau:
"Uyên ơi, má Tám nè. Mai rằm tháng Tám, má làm Trung thu cho tụi nhỏ con mấy đứa làm công ngoài vựa. Con chở má Lan xuống chơi nghen con. Má làm bánh dẻo nhân đậu xanh, má Lan thích lắm. Con nhớ xuống nghen."
Uyên nghe hết tin nhắn. Rồi cô nghe lại lần nữa.
Cô nghĩ tới tấm bản đồ chợ Rạch Vồn trên bảng, cái vòng tròn đỏ quanh cổng vựa Tám Kiều. Cô nghĩ tới con bé Ngân đứng rửa chén bên lu nước, và cái sáng mùng hai mà nó đã chờ tám năm.
Cô bấm gọi lại.
– Dạ má Tám. Con nghe rồi. Mai con chở má xuống.
Lần này cô biết trước mình sẽ ngồi ở đó, ăn bánh, uống trà, và không nói gì hết.
— Hết chương 20 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe