Chương 30: Đơn từ chối
Ông Phong đọc lá đơn hai lần. Lần thứ hai ông đọc chậm, ngón tay trỏ dò theo từng dòng như người già đọc báo, dù ông chưa già tới mức đó.
Bảy giờ rưỡi sáng thứ Tư. Phòng Viện trưởng còn mùi trà mới pha. Con cá chép bằng đồng nằm lệch qua một bên bàn, chỗ ông đẩy nó ra để cầm tờ giấy lên.
– Tối hai mươi hai tháng Tám. – Ông nói, không ngẩng lên. – Gần hai tháng.
– Dạ.
– Hồi tháng Chín em báo anh chuyện thửa đất của ba em. Em không báo chuyện này.
– Dạ. Hồi đó em không nghĩ nó là chuyện. Em nghĩ sai.
Ông Phong đặt tờ giấy xuống, tháo kính, lau bằng vạt áo, như cái sáng tháng Tám ông đưa cô tờ quyết định phân công đầu tiên. Rồi ông đeo lại.
– Em biết điều anh sẽ nói không?
– Dạ biết.
– Anh vẫn nói. – Ông nhìn cô. – Em báo trễ. Nhưng em báo trước khi có ai hỏi em. Em báo bằng văn bản, em ghi đủ cả chỗ em sai. Mười mấy năm làm Viện trưởng, anh nhận nhiều đơn lắm, đơn xin từ chối vì bận, vì bệnh, vì sợ. Đơn ghi rõ mình đã nói hớ với ai, mấy giờ, ở đâu, thì đây là lá thứ nhứt.
Uyên không nói gì.
– Anh chấp nhận. – Ông Phong nói. – Từ hôm nay em không tiến hành tố tụng gì trong vụ này và các vụ có liên quan. Anh giao cho Kiệt. Em bàn giao hồ sơ cho Kiệt trong sáng nay, nói hết cho Kiệt nghe. Rồi em đi làm việc khác. Có cái án tham ô bên phòng kia đang thiếu người.
– Dạ.
Cô đứng dậy. Tới cửa, ông gọi cô lại.
– Uyên.
Cô quay lại.
– Người ta mang ơn ai thì hay mù một bên mắt về phía người đó. – Ông nói. – Không phải lỗi. Là người. Mà làm nghề này thì phải biết mình mù bên nào.
Đàm Quốc Kiệt bốn mươi lăm tuổi, cao, gầy, đeo kính gọng đen, quê ở miền Trung vô Nam lập nghiệp từ hồi đi học. Anh nói chậm, nặng, có cái âm cuối kéo dài mà làm ở tỉnh này hai chục năm vẫn chưa bỏ được. Ở Viện, người ta nói anh Kiệt đọc hồ sơ như người ta đếm tiền, không sót một tờ.
Anh ngồi đối diện Uyên trong phòng làm việc của cô suốt buổi sáng thứ Tư. Cô đưa từng bìa hồ sơ, nói từng chuyện, từ chiếc ghe xanh có hai con mắt đỏ ở đầu cù lao Mây sáng mùng sáu tháng Tám, tới lá đơn chặn dưới con cá chép đồng tối hôm qua. Anh nghe, ghi, hỏi lại. Anh không hỏi câu nào thừa. Anh cũng không hỏi câu nào kiểu "sao chị không nói sớm".
Gần trưa, anh gấp cuốn sổ lại.
– Chiều nay chị qua bên công an làm lời khai. – Anh nói. – Tư cách người làm chứng. Tôi có mặt. Từ giờ, chị đừng gặp bà Kiều, đừng nghe điện thoại bả, đừng nhận gì của bả. Gia đình chị cũng vậy, càng ít càng tốt.
– Dạ.
– Còn cái này. – Anh ngừng một chút. – Chị đi xuống vàm Bần Quỳ hỏi ông Lượm một mình, chị khai luôn chiều nay. Ghi rõ. Hồ sơ sạch thì ra tòa không ai bẻ được.
– Em biết anh.
Ba giờ chiều thứ Tư, Uyên ngồi ở phòng làm việc nhỏ của đội trọng án, ở cái ghế mà mấy tháng nay chị Mộng, chị Lựu, ông Ba Tý, con bé Ngân đã ngồi.
Lần đầu tiên cô ngồi ở bên này cái bàn.
Khải ngồi đối diện. Anh Kiệt ngồi ở ghế kiểm sát viên, chỗ của cô. Máy ghi âm đặt giữa bàn, đèn xanh nhỏ sáng. Rinh ghi biên bản.
Khải hỏi bằng giọng anh vẫn hỏi mọi người làm chứng. Tên, tuổi, nghề nghiệp, quan hệ với bà Ngô Thị Kiều. Từ năm nào. Bà Kiều giúp gia đình chị những gì. Tối hai mươi hai tháng Tám chị ở đâu, mấy giờ tới, mấy giờ về. Ai có mặt. Ai nói gì.
Uyên trả lời. Cô trả lời như cô vẫn muốn người làm chứng trả lời khi cô ngồi ở ghế bên kia: cái gì thấy thì nói thấy, cái gì nghe thì nói nghe, cái gì không nhớ thì nói không nhớ. Không thêm. Không bớt. Không đoán.
Tới câu "chị đã nói gì khi xin phép ra về", cô dừng lại một nhịp.
Khải không giục.
– Tôi nói: "Dạ thôi má Tám. Mai tụi con đi sớm, xuống mấy cái lò dưới Lò Đỏ."
Rinh ghi. Tiếng bút sột soạt trên giấy.
– Lúc chị nói câu đó, ai có mặt?
– Má tôi, bà Lâm Thị Lan. Bà cô họ của ông Tám, tôi không biết tên, bà lớn tuổi, lãng tai. Bà Ngô Thị Kiều. Con bé Ngân, tôi không chắc, có thể còn ở dưới bếp.
– Anh Lý Minh Đăng?
– Anh Đăng đã chở vợ con về từ khoảng tám giờ. Lúc tôi nói câu đó thì không còn ở đó.
Buổi lấy lời khai kéo dài hai tiếng. Lúc ký biên bản, Uyên đọc lại từng trang. Cô sửa một chữ: chỗ Rinh ghi "khoảng tám giờ rưỡi", cô sửa lại "khoảng tám giờ", ký tắt bên cạnh. Rồi cô ký cuối mỗi trang.
Ra tới hành lang, Khải đi bên cạnh cô một đoạn. Không ai nói gì. Tới đầu cầu thang, anh dừng lại.
– Uyên làm lời khai giỏi hơn mọi người làm chứng anh từng hỏi. – Anh nói.
– Em làm kiểm sát viên mười mấy năm. – Cô nói. – Em biết người ta muốn nghe cái gì.
– Không. – Anh lắc đầu. – Uyên nói cái người ta không muốn nghe. Mà nói đúng.
Tối thứ Năm, Uyên nói với má.
Cô không nói hết. Cô không được nói hết. Cô chỉ nói: con đã xin rút khỏi vụ ông Ba Sển, vụ ông Tư Nhơn, vì con là người làm chứng. Má đừng lên bệnh viện thăm má Tám nữa. Đừng xuống vựa. Má Tám gọi thì má nói má bệnh. Một thời gian thôi má.
Má Lan đang ngồi lặt rau muống trên bộ ván. Bàn tay má dừng lại giữa chừng, một cọng rau muống còn nửa lá trên tay.
– Con nói gì vậy Uyên?
– Dạ, con không nói thêm được má.
– Má Tám có làm gì đâu? – Giọng má cao lên. – Thằng Đăng nó dại, nó dính vô ông Tư, đâu phải má Tám. Má Tám nằm bệnh viện, cái vai băng trắng. Bả nuôi con ăn học. Bả cho má công việc. Hồi ba con mất, ai đứng ra lo đám? Ai? Cả xóm Bờ Sậy không ai bỏ một đồng, chỉ có bả. Con làm quan lớn rồi con quên hả con?
Uyên ngồi im, để má nói. Má nói một hồi, nói chuyện năm 2010, năm 2011, chuyện đám tang ba, chuyện cái bao thư đầu học kỳ. Rồi má ngừng. Má ngồi đó, cầm cọng rau muống, nhìn xuống cái rổ.
Một lúc lâu, má nói, giọng khác hẳn:
– Hồi sáng hôm ba con đi ký giấy…
Uyên ngẩng lên.
– Ông Tư tới chở. – Má nói, chậm, như đang lật một tấm ảnh cũ ra coi. – Ổng đứng ngoài cổng chờ ba con thay áo. Ổng nghe điện thoại. Má đứng trong bếp, má nghe ổng nói: "Dạ chị, em chở ổng đi liền. Dạ, chị yên tâm." Hồi đó má tưởng ổng nói với vợ ổng. Mà ông Tư đâu có kêu vợ ổng bằng chị.
Má đặt cọng rau xuống rổ.
– Rồi chiều đó má Tám mới tới. – Má nói. – Đứng ở cổng, áo ướt vai, nói để chị lo. Tới chiều. Sau khi ba con ký rồi.
Uyên không nói gì. Cô đứng dậy, đi tới, ngồi xuống bên cạnh má trên bộ ván, cầm lấy bàn tay má, bàn tay dính nhựa rau muống, nhăn nheo.
– Má. – Cô nói. – Má nhớ gì, má nói với chú Khải. Đừng nói với con. Con không được nghe nữa.
Má Lan nhìn cô. Rồi má gật đầu, chậm, như người không còn sức lắc.
Chiều thứ Sáu, điện thoại Uyên reo ba lần. Ba lần cùng một cái tên, "Má Tám". Cô để nó reo tới hết, cả ba lần, úp nó xuống mặt bàn.
Bốn giờ, một người chạy xe ôm tới cổng Viện, xách một cái giỏ tre, nói gửi cho kiểm sát viên Tô Thanh Uyên. Trong giỏ là sáu trái bưởi da xanh, trái nào cũng to, vỏ căng, cuống còn lá. Trên quai giỏ cột một mẩu giấy, chữ viết tay nghiêng nghiêng, nét run:
"Má Tám gửi con. Ăn cho có sức. Má đỡ rồi, đừng lo."
Uyên không mở mẩu giấy ra đọc lần thứ hai. Cô xách cái giỏ đi qua phòng anh Kiệt, đặt lên bàn anh.
– Anh lập biên bản giùm em. – Cô nói. – Quà của người có liên quan gửi cho người làm chứng. Em không nhận.
Anh Kiệt nhìn cái giỏ bưởi, nhìn cô, rồi kéo ngăn kéo lấy mẫu biên bản ra.
Cùng chiều thứ Sáu, ở phòng làm việc của đội trọng án, chị Hoa ngồi trước mặt Khải và anh Kiệt.
Lần thứ ba chị được mời lên. Hai lần trước, chị nói tiền hốt hụi. Lần này, Khải đặt lên bàn một tờ lịch, khoanh tròn ngày mười tháng Tám, chỉ vào con số nhỏ ở góc: hai mươi tám tháng Sáu.
– Hụi tháng bà Tám khui mùng năm âm lịch. – Anh nói. – Ông Ba Tý nói vậy. Chị Lựu nói vậy. Thím Ba Thắm nói vậy. Ngày chị đi hốt hụi là hai mươi tám.
Chị Hoa nhìn tờ lịch. Hai tay chị đặt trên đùi, vò vạt áo bà ba tới nhàu.
– Chồng chị ở trong đó hai tháng rưỡi rồi. – Khải nói, nhỏ. – Ảnh im vì sợ cho chị với hai đứa nhỏ. Tôi biết. Chị cũng biết. Hôm nay ông Tư ở trong trại, Sáu Rô ở trong trại, anh Đăng ở trong trại. Nhà chị có người của Công an xã để ý từ tuần trước. Không ai tới nhà chị được nữa.
Chị Hoa khóc. Không ra tiếng. Rồi chị nói.
Sáng thứ Hai mười tháng Tám, chồng chị vừa bị bắt ở đầu ngõ, chị chạy ra chợ. Không phải chị tự đi. Tối Chủ nhật, lúc chị đang xếp đồ cho chồng đi Bình Dương, bà Tám đã gọi chị, dặn: có chuyện gì thì sáng mai qua vựa. Sáng đó chị qua. Bà Tám kêu chị vô nhà sau, đưa cho chị một bịch nilon đen. Bà nói: đem trả dứt nợ tiệm ông Tư, ai hỏi thì nói hốt hụi. Chồng em ở trong đó, nó im thì nhà em yên, con em đi học.
– Bữa ở đầu ngõ, – Khải hỏi, – chị la "ai biểu ổng đi thì đi mà bắt người đó". Người đó là ai?
Chị Hoa lau mắt bằng tay áo.
– Hồi đó tui tưởng là ông Tư. – Chị nói. – Tối thứ Tư đó ổng đi, ổng nói ông Tư biểu. Mà sáng thứ Hai, người đưa tiền cho tui là bà Tám.
Trước khi về, chị Hoa xin một chuyện: cho chồng chị biết là chị đã nói, và mẹ con chị không sao. Sáu giờ chiều, Rinh vô trại tạm giam, ngồi với Hai Lép mười phút ở phòng làm việc, có cán bộ quản giáo. Anh nói đúng hai câu chị Hoa nhờ. Hai Lép nghe, không nói gì, cúi đầu đi về buồng.
Tối thứ Sáu, chín giờ, Khải đang ngồi đọc lại biên bản lời khai chị Hoa thì điện thoại bàn reo. Trực ban trại tạm giam.
– Anh Khải. Bị can Trần Văn Lép xin gặp điều tra viên. Nói gặp anh. Nói gấp.
– Nó có nói chuyện gì không?
Đầu dây bên kia có tiếng giấy sột soạt, như người trực ban đang đọc lại cái gì vừa ghi.
– Nó nói: "Tui khai lại chuyện cái nhánh bần."
— Hết chương 30 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe