Chương 4: Tờ trăm nghìn phơi trên mái chòi
Ba con chó của tui sủa lúc hai giờ bốn lăm. Tui biết giờ vì tui có cái đồng hồ treo cột, cái đồng hồ có con gà mổ thóc, thằng cháu tui mua cho hồi Tết.
Chó tui sủa nhiều kiểu, chú hiểu không. Sủa rắn thì nó sủa ngắn, gằn gằn. Sủa chồn thì nó sủa dài rồi chạy. Còn sủa người lạ thì nó sủa mà đứng yên, ba đứa đứng thành hàng, đầu chĩa một hướng. Đêm đó tụi nó sủa kiểu người lạ.
Tui cầm cây đèn pin ra. Trăng mới lên, có nửa vầng thôi, mà trời trong nên cũng sáng. Tui thấy một người đàn ông đi từ dưới doi cát lên, men theo bờ ruộng. Ướt từ bụng trở xuống. Tay cầm đôi dép. Đi nhanh mà không chạy.
Tui rọi đèn, hỏi: "Ai đó?" Ổng đứng lại, đưa tay che mắt. Ổng nói: "Dì ơi, dì chở con qua bờ bên kia với. Con té xuồng." Giọng người dưới này, không phải người xa.
Tui hỏi xuồng đâu. Ổng nói chìm rồi. Tui nhìn ra sông, không thấy xuồng nào. Mà nửa đêm nửa hôm, tui già rồi, tui cũng không muốn hỏi nhiều. Tui chở. Năm phút là qua tới bờ Rạch Vồn. Ổng ngồi đằng mũi, không nói tiếng nào, người bốc mùi rượu thuốc.
Tới bờ, ổng móc trong túi quần ra tờ trăm nghìn, ướt nhẹp, đưa tui bằng tay trái. Tui cầm tiền thì thấy cái ngón trỏ của ổng cụt một đốt. Cụt ngang, tròn trịa, kiểu bị máy cắt lâu rồi.
Ổng lên bờ đi mất. Tui về chòi, lấy cục gạch đè tờ tiền lên mái tôn phơi cho khô.
Tờ tiền đó tui còn giữ nè. Tui chưa xài. Không hiểu sao tui không muốn xài.
Dì Tư Vịt tên thật là Trương Thị Bông, sáu mươi ba tuổi, nuôi bầy vịt hơn ba trăm con trên cù lao Mây đã mười mấy năm. Chòi của dì nằm ở phía nhánh sông hẹp, đối diện bờ Rạch Vồn. Đêm hôm có ai cần qua sông gấp, ở cù lao này người ta đều biết gõ cửa chòi dì.
Khải và Rinh tìm ra dì lúc mười giờ sáng Chủ nhật, nhờ một câu của Hiển.
Hồi tối qua, nghe Diệp báo cái sim tắt ở bờ Rạch Vồn lúc ba giờ mười, Khải gọi Hiển hỏi một câu đơn giản: nửa đêm, người đang ở đầu cù lao muốn qua bờ Rạch Vồn thì qua bằng cách nào? Lội thì không ai lội nhánh đó ban đêm, nước xoáy. Hiển trả lời không cần nghĩ:
– Gõ cửa bà Tư Vịt.
Sáng Chủ nhật là ngày đưa tang chú Ba Sển. Khải và Rinh đứng ở đầu ngõ ấp Bờ Sậy, nhìn đoàn người khiêng quan tài đi ra phần đất sau vườn, tiếng kèn đám ma nghe lạc giữa gió sông. Uyên đi trong đoàn, áo trắng, khăn đen. Cô không thấy họ. Họ cũng không đi tới. Đoàn đi khuất sau hàng dừa nước rồi, hai người mới xuống xuồng lên cù lao.
Dì Tư kể chuyện y như người ta kể chuyện xưa: có đầu có đuôi, có cái đồng hồ con gà, có ba con chó. Dì nói nhiều nhưng không lạc. Khải ngồi trên cái ghế đẩu thấp, uống ly trà dì rót, nghe hết, không ngắt lời một lần nào. Chỉ khi dì kể tới tờ tiền, anh mới hỏi:
– Dì còn giữ hả dì?
– Còn chớ. Đây.
Dì leo lên cái ghế, với tay lên mái chòi, lấy xuống một tờ trăm nghìn đã khô cong, mép nhăn nhúm, còn in một vệt đỏ của cục gạch. Khải lấy túi niêm phong ra đựng. Anh biết tờ tiền đó chẳng còn dấu vân tay nào xài được sau hai ngày phơi nắng. Nhưng anh vẫn đựng, vì dì Tư đã giữ nó, và dì giữ nó vì thấy có chuyện không ổn.
– Ông đó cao không dì?
– Thấp hơn chú chút. Ốm. Tóc hớt ngắn sát. Mặc áo thun đen.
– Tuổi chừng nhiêu?
– Bốn chục, bốn mấy. Không trẻ, không già.
– Ổng nói giọng người dưới này. Dưới đây là dưới đâu dì?
– Thì người Rạch Vồn. Người cù lao nói khác, người bên kia sông nói khác. Ổng nói giọng Rạch Vồn, tui nghe là biết.
Rinh ngồi xổm ở cửa chòi, nhìn xuống doi cát đầu cù lao, chỗ chiếc ghe xanh nằm sáng thứ Năm. Từ đây ra đó chừng ba trăm mét. Lúc nước ròng sâu, doi cát lộ ra rộng, người ta có thể nhảy khỏi ghe, lội tới đầu gối là lên được bờ.
– Dì Tư. – Rinh hỏi. – Lúc ông đó đi lên, ổng có ngoái lại nhìn ra sông không?
Dì Tư nghĩ một lúc.
– Có. Ngoái một lần. Mà ngoài sông lúc đó có gì đâu, tối thui. Chỉ nghe tiếng máy ghe nổ lụp bụp đâu đó.
– Tiếng máy nổ ở hướng nào dì?
– Hướng doi. – Dì chỉ tay. – Mà tui tưởng ghe ai đi thả lưới.
Thượng úy Châu Ngọc Diệp ba mươi tuổi, làm ở đội trọng án bốn năm, chuyên tra dữ liệu. Cô có thói quen ngồi xếp bằng trên ghế xoay, vừa gõ máy vừa ăn bánh tráng trộn, và gọi Khải là "sếp" dù anh đã nhắc không biết bao nhiêu lần là trong đội không ai gọi nhau như vậy.
Chiều Chủ nhật, cô đã có một danh sách. Không phải danh sách tội phạm. Là danh sách những người đàn ông từ ba lăm tới năm mươi tuổi ở xã Rạch Vồn và hai xã giáp ranh, có hồ sơ dính tới đòi nợ, gây rối, cố ý gây thương tích trong mười năm lại đây. Hai mươi ba người.
– Em lọc thêm người có nhà ở gần chỗ cái sim tắt. – Cô nói qua điện thoại. – Còn chín người. Mà sếp nói ông này cụt ngón tay hả?
– Ngón trỏ tay trái, cụt một đốt.
Đầu dây bên kia im một chút, nghe tiếng gõ phím lách cách.
– Em không có dữ liệu ngón tay sếp ơi. Sếp hỏi anh Hiển đi.
Khải hỏi Hiển. Hiển đang ngồi ở trụ sở Công an xã, nghe xong câu hỏi thì thở ra một hơi dài.
– Hai Lép. Trần Văn Lép. Bốn mươi mốt tuổi. Thằng đó cụt ngón trỏ từ hồi làm máy xay lúa, năm 2009. Nhà nó ở bờ Rạch Vồn, ngay đối diện cù lao. Nó làm thuê, mà làm thuê chính là đi đòi nợ cho tiệm cầm đồ ông Tư Nhơn ngoài chợ. Năm 2021 dính một vụ gây rối, xử hành chính.
– Ông Tư Nhơn là ai?
– Hứa Văn Nhơn. Chủ tiệm cầm đồ, kiêm cho vay. Ở Rạch Vồn ai kẹt tiền mà ngân hàng không cho vay thì tới ổng. – Hiển ngừng một chút. – Anh muốn tui mời Hai Lép lên không?
– Chưa. Anh cho người coi nhà nó giùm tui. Đừng để nó biết.
Tối Chủ nhật, tổ của Hiển báo lên: Hai Lép ở nhà, vợ nó ra tiệm tạp hóa mua một cái giỏ xách lớn, mua thêm mì gói, nói với bà chủ tiệm là chồng đi Bình Dương làm công trình mấy tháng. Hàng xóm nói hai bữa nay Hai Lép không đi nhậu, không ra quán, cửa đóng từ sớm.
Khải gọi anh Đạt. Anh Đạt nghe xong, hỏi đúng một câu:
– Giấy tờ đủ chưa?
– Đủ cho bắt khẩn cấp anh. Người làm chứng thấy, nhận dạng được dấu vết trên thân thể. Có căn cứ nó chuẩn bị bỏ trốn. Dữ liệu sim khớp đường đi.
– Vậy làm đi. Báo Viện liền.
Năm giờ rưỡi sáng thứ Hai, trời còn xám, Hai Lép xách cái giỏ mới mua bước ra khỏi cửa thì thấy ba người đứng chờ ở đầu ngõ. Hắn đứng sững. Cái giỏ tuột khỏi tay rơi bịch xuống đất. Hắn không chạy. Khải đã chuẩn bị cho chuyện hắn chạy, Rinh đứng sẵn ở con đường phía sau nhà, nhưng hắn không chạy. Hắn chỉ đứng đó, hai tay buông thõng, như người đi bộ cả đêm giờ mới được ngồi xuống.
Khải đọc lệnh. Hắn nghe, gật đầu, không cãi.
Người la là vợ hắn. Chị Hoa chạy ra từ trong nhà, tóc còn rối, áo bà ba nhàu, la lên một tiếng mà cả xóm thức dậy:
– Bắt chồng tui làm gì? Ổng làm gì? Ai biểu ổng đi thì mấy ông đi mà bắt người đó!
Rồi chị im bặt. Như người vừa nói hớ. Chị đưa tay bụm miệng, nhìn chồng. Hai Lép không nhìn chị. Hắn nhìn xuống cái giỏ xách nằm lăn dưới đất, mấy gói mì văng ra.
Khải quay qua chị Hoa, nói chậm:
– Chị nói ai biểu ảnh đi?
– Tui… tui nói vậy thôi. Tui không biết gì hết. – Chị lùi vô cửa, vịn khung cửa. – Tui không biết gì hết.
Khải không ép. Đứng ở đầu ngõ lúc năm giờ rưỡi sáng, trước mặt hàng xóm, không phải chỗ để hỏi một người vợ vừa thấy chồng bị bắt.
Trên xe về tỉnh, Hai Lép ngồi băng sau, kẹp giữa Rinh và một cán bộ trẻ. Hai bàn tay hắn đặt trên đùi, ngón trỏ trái co lại như thói quen giấu nó đi. Qua khỏi cầu Rạch Vồn, hắn xin một điếu thuốc. Khải nói trên xe không hút, hắn gật đầu, không xin nữa. Hắn nhìn ra cửa sổ, nhìn mấy cái vườn chôm chôm đã hết trái chạy lùi về phía sau, nhìn con sông lúc ẩn lúc hiện sau những hàng dừa nước. Có một lúc, xe chạy ngang một quán nhậu ven đường còn đóng cửa, hắn quay đầu nhìn theo cái quán rất lâu, như nhìn một chỗ mình từng ngồi.
Lệnh bắt khẩn cấp phải gửi Viện kiểm sát phê chuẩn. Tám giờ sáng, hồ sơ nằm trên bàn Uyên.
Cô đọc từng trang. Biên bản lời khai dì Tư Vịt. Ảnh tờ trăm nghìn. Dữ liệu trạm phát sóng của cái sim rác. Biên bản khám nghiệm hiện trường vàm Bần Quỳ: nhánh bần gãy, vệt sơn xanh, chai rượu, hai cái ly. Biên bản nhận dạng: dì Tư được cho xem ảnh sáu người đàn ông, chỉ ngay Trần Văn Lép, không do dự. Biên bản khám xét người: ngón trỏ tay trái cụt một đốt. Lời khai hàng xóm về cái giỏ xách và chuyện đi Bình Dương.
Cô đọc tới đâu, cô thấy cái lưới siết lại tới đó. Gọn. Đủ. Có thứ tự. Người làm hồ sơ này không bỏ sót chỗ nào để người khác phải hỏi lại.
Cô gọi điện xuống đội trọng án.
– Anh Khải. Tôi đọc rồi. Tôi phê chuẩn.
– Cảm ơn chị.
– Anh có hỏi gì nó chưa?
– Chưa hỏi chính thức. Mai hỏi cung, có ghi hình. Chị muốn dự không?
– Tôi dự.
Anh im một chút ở đầu dây, rồi nói:
– Trên xe về đây, nó có nói một câu. Tôi chưa ghi biên bản vì chưa phải lúc hỏi cung. Nhưng tôi nói chị biết trước.
– Câu gì?
– Nó ngồi giữa hai người, nhìn ra cửa sổ, tự nhiên quay lại nói với tôi: "Tui khai. Ổng té, tui có xô đâu."
Uyên cầm bút bấm đầu bút hai cái.
– Vậy là nó thừa nhận có mặt.
– Ừ. – Khải nói. – Mà chị để ý chữ nó dùng không. Nó không nói "ổng chết". Nó nói "ổng té". Người ta chỉ nói vậy khi trong đầu người ta, cái người kia vẫn còn đang té. Chưa chạm nước.
— Hết chương 4 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe