Chương 2: Nắm tay khép chặt
Út Lượm kéo đáy lúc sáu giờ hai mươi sáng thứ Sáu, khi con nước ròng đã gần cạn.
Cái đáy của ông giăng ngang vàm Bần Quỳ, cách bến chợ Rạch Vồn chừng ba cây số về phía hạ nguồn. Ba mươi năm nay, mỗi con nước ròng ông thả miệng đáy há ra đón dòng, gần hết nước thì chèo xuồng ra kéo túi lưới lên, lựa tôm cá, gỡ rác. Ông đã gỡ đủ thứ trong cái túi lưới đó: con heo chết trôi, cái tủ lạnh cũ, một lần là cái bàn thờ ông Địa còn nguyên lư hương. Sáng hôm đó, khi túi lưới nặng một cách lạ lùng, ông đã đoán ra trước khi thấy.
Ông không kêu lên. Ông chèo xuồng vô bờ, đứng trên bờ, gọi điện cho trưởng ấp. Rồi ông ngồi xuống bậc đất, hút một điếu thuốc, tay run tới mức châm ba lần mới cháy.
Kiểm sát viên Tô Thanh Uyên nhận quyết định phân công lúc bảy giờ năm phút. Viện trưởng Lương Thế Phong gọi cô lên phòng, đưa tờ giấy, không vòng vo.
– Phát hiện tử thi ở Rạch Vồn. Bên công an đề nghị cử kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường và tử thi. Em đang trực, em lại biết địa bàn.
– Thưa anh, em quen nạn nhân.
– Hôm qua em nói rồi. Quen biết cũ, không bà con, không quyền lợi gì. Chưa tới mức phải đổi người. – Ông Phong tháo kính, lau bằng vạt áo. – Nhưng có điều gì làm em thấy không còn đứng ngoài được, em báo anh liền. Bằng văn bản.
– Dạ.
Cô ra khỏi phòng, chạy xe xuống Rạch Vồn lần thứ hai trong hai ngày.
Vàm Bần Quỳ là chỗ một con rạch nhỏ đổ ra sông Cổ Chiên. Hai bên vàm, bần mọc dày, rễ thở đâm lên khỏi bùn như những hàng đinh tre. Sau hàng bần là hai cái lò gạch bỏ hoang, vòm lò đỏ thẫm phủ rêu, ống khói gãy ngang. Cái bến lò cũ còn mấy cây cọc bê tông chơ vơ dưới nước. Hồi Uyên còn nhỏ, lò còn đốt, khói bay nghi ngút cả ngày, ghe chở gạch nối đuôi nhau ra vô.
Khi cô tới, khu vực đã căng dây. Thi thể đã được đưa lên một khoảnh đất bằng cạnh bờ, che bạt xanh. Một chiếc lều dã chiến dựng tạm. Bác sĩ pháp y Nghiêm Thị Lài, thiếu tá, bốn mươi bảy tuổi, đang mang găng. Chị người Nam Định, ở miền Tây đã hai chục năm, giọng nói nửa Bắc nửa Nam nghe không lẫn vào đâu được.
– Kiểm sát viên đây rồi. – Chị Lài nói. – Chú Khải đâu, ra đây, người ta tới rồi.
Khải ở dưới mép nước với Rinh và Út Lượm. Anh đi lên, áo vẫn cái kiểu sơ mi ướt nách như hôm qua. Lần này anh bắt tay cô lâu hơn một chút.
– Viện cử chị thiệt rồi hả?
– Tôi có quyết định đây.
Anh liếc qua tờ giấy, gật đầu.
– Vậy chị vô đi. Mình làm cho đàng hoàng.
Cô vô.
Cô đã kiểm sát nhiều cuộc khám nghiệm tử thi. Người ngoài hay nghĩ việc khó nhất là chịu được cái mùi, cái hình ảnh. Không phải. Việc khó nhất là nhớ rằng người nằm đó từng có tên, từng cười, từng chở mình đi học, mà vẫn phải đứng đó nhìn cho kỹ, ghi cho đủ, hỏi cho trúng.
Chú Ba Sển nằm ngửa trên tấm bạt. Áo khoác gió màu xám, quần tây đen xắn ống, chân trần. Mặt chú sưng nhẹ vì nước, nhưng cô vẫn nhận ra cái nốt ruồi trên chân mày trái, nhận ra cái răng cửa sứt mà hồi xưa chú hay nhe ra chọc cô. Cô đứng cách một bước, cầm bút, không để tay mình run.
Chị Lài làm việc gọn và nói to từng điều cho người ghi biên bản.
– Nam, khoảng năm mươi tuổi. Thời gian ngâm nước ước chừng một ngày đến một ngày rưỡi. Có dấu hiệu điển hình của ngạt nước, bọt mịn ở mũi miệng, sẽ xác định lại khi mổ tử thi ở trung tâm. Vùng trán bên phải có một vết bầm, chừng bốn phân, bờ không rách, hình dạng giống va vào một vật cứng có cạnh tù. Hai bàn tay có trầy da nhẹ ở lòng bàn tay. Móng tay có bùn. Không thấy vết thương khác.
– Vết bầm ở trán có trước hay sau khi xuống nước? – Uyên hỏi.
Chị Lài ngẩng lên nhìn cô, rồi gật đầu như chấm một bài làm.
– Có phản ứng sống. Tức là lúc va, người còn sống. Trước khi chìm hay đúng lúc chìm thì tôi chưa nói chắc được.
– Chị ghi kích thước giùm tôi, cả chiều dài lẫn chiều rộng. Và vị trí so với chân mày.
– Ghi rồi đây.
Khải đứng bên kia tấm bạt, khoanh tay. Uyên biết anh đang để ý cô. Cái kiểu hỏi kỹ từng chi tiết của kiểm sát viên làm nhiều điều tra viên khó chịu, nhất là ở hiện trường, giữa trời nắng, khi họ muốn làm cho xong để còn chạy việc khác. Nhưng anh không nói gì.
Chị Lài cúi xuống bàn tay phải của chú Ba Sển.
– Tay phải nắm chặt. – Chị nói. – Kiểu co cứng ngay lúc chết này hay gặp ở người chết đuối, lúc chìm níu được cái gì thì giữ luôn. Để tôi mở.
Chị gỡ từng ngón tay, chậm, cẩn thận, như người ta gỡ những ngón tay của đứa trẻ đang ngủ ra khỏi vạt áo mẹ. Ngón cái. Ngón trỏ. Ngón giữa. Trong lòng bàn tay chú Ba Sển là một trái cây tròn, cỡ trái chanh lớn, vỏ xanh sẫm loang nâu, còn dính một đoạn cuống và một mẩu lá dài chừng hai lóng tay.
Mọi người im lặng. Ngoài sông, có tiếng máy ghe xa xa.
– Trái bần. – Út Lượm nói, ông đứng ngoài dây, rướn cổ nhìn vô. – Trái bần mà.
– Chú Lượm. – Khải nói, giọng không lớn nhưng làm ông già giật mình. – Chú ra ngoài kia ngồi giùm con. Lát con hỏi chuyện.
Út Lượm lui ra. Khải đợi ông đi khuất mới quay lại, nhìn từng người trong lều: chị Lài, hai người kỹ thuật hình sự, Rinh, Uyên, người ghi biên bản.
– Chuyện trái bần này, ghi vô biên bản cho đủ. – Anh nói. – Nhưng ngoài mấy người đứng đây, không ai được nói ra. Báo chí hỏi, dân hỏi, gia đình hỏi, cũng không. Ai hỏi thì nói đang điều tra.
– Còn ông Lượm? – Uyên hỏi. – Ông thấy rồi.
– Ổng thấy từ ngoài dây, xa, chưa chắc ổng thấy gì. Lát tôi nói chuyện với ổng.
Uyên gật đầu. Cô hiểu tại sao anh làm vậy. Một chi tiết chỉ người trong cuộc biết là thứ quý nhất trong tay điều tra viên. Nó giống như cái chìa khóa giữ riêng, để tới lúc có người khai, mình biết người đó đã thật sự có mặt hay chỉ nghe đồn.
Chị Lài bỏ trái bần vô túi niêm phong, ghi số, ghi giờ. Rinh cúi xuống nhìn qua lớp nilon trong suốt, lâu hơn mọi người.
Khám nghiệm xong lúc gần mười hai giờ. Thi thể được đưa về trung tâm pháp y để mổ, chiều sẽ trả về cho gia đình. Thím Ba Thắm đã tới từ chín giờ, được người ta giữ ở ngoài con đường đất. Uyên ra ngồi với thím một lúc. Lần này thím khóc. Thím khóc không ra tiếng, chỉ có hai vai rung lên, và thằng Lành đứng sau lưng mẹ, một tay đặt trên vai thím, mắt nhìn ra sông.
Khải ngồi với Út Lượm dưới gốc bần, trên một khúc cây khô.
– Chú thả đáy lúc mấy giờ?
– Đêm qua nước ròng khoảng gần hai giờ. Tui thả lúc đó. Sáng nay sáu giờ hai mươi kéo.
– Còn đêm trước nữa? Đêm thứ Tư qua thứ Năm.
– Cũng thả. Ròng từ một giờ. Sáng thứ Năm kéo lên có mớ tôm, không có gì lạ.
Rinh ngồi xổm bên cạnh, vẽ bằng một cọng cỏ trên mặt đất bùn.
– Dạ anh Hai, người té xuống nước rồi chìm, xác nằm sát đáy sông. Nước lớn thì đẩy ngược lên, nước ròng thì kéo xuôi xuống. Một ngày hai con nước, cứ đưa qua đưa lại vậy, quanh quẩn một khúc chừng một, hai cây số, chưa trôi xa được đâu. Phải hai ba ngày sau, xác nổi lên, mới trôi theo mặt nước.
– Nghĩa là ổng té xuống không xa chỗ này.
– Dạ, không xa. Mà cũng không chắc gần. Bến chợ cách đây ba cây số, cũng có thể là quanh quẩn tới đây.
Khải gãi cằm.
– Chú Lượm. Hồi nãy chú thấy trái gì trong tay ổng?
Ông già nhìn anh, rồi nhìn xuống chân mình.
– Tui thấy… cái gì xanh xanh. Tui nói đại.
– Vậy chú đừng nói đại với ai nữa nghen chú. Nói đại rồi người ta đồn, đồn rồi chuyện thiệt lẫn với chuyện không thiệt, tụi con khó làm lắm.
– Dạ. Tui biết rồi.
Khải đứng dậy phủi quần. Uyên đã đứng gần đó từ lúc nào, cặp da kẹp dưới nách, nón cầm tay.
– Chị Uyên về hả?
– Tôi về ghi lại biên bản kiểm sát. – Cô ngừng một chút. – Anh Khải. Anh có định coi đây là tai nạn không?
Khải nhìn cô. Ánh nắng trưa chiếu xiên qua tán bần, in những vệt lốm đốm trên mặt anh.
– Tôi chưa định coi là gì hết. – Anh nói. – Người ta hay hỏi câu đó sớm quá. Hỏi sớm thì mình trả lời sớm, mà trả lời sớm thì mình bắt đầu đi kiếm cái gì để chứng minh câu trả lời của mình đúng. Tôi bị vậy một lần rồi. Đủ rồi.
Uyên không biết "một lần" của anh là lần nào. Cô không hỏi. Cô chỉ thấy câu đó không giống câu của người muốn khép hồ sơ cho nhanh, và điều đó làm cô dịu lại một chút với anh.
– Có gì anh báo tôi. – Cô nói.
– Có gì tôi báo chị.
Chiều hôm đó, Rinh không về trụ sở. Anh mượn chiếc xuồng máy của Công an xã, chạy dọc bờ từ bến chợ ngược lên đầu cù lao Mây, vòng qua phía bờ bên kia, rồi xuôi xuống khúc Bờ Sậy, đúng con đường chú Ba Sển phải đi nếu chú ra bến chợ uống cà phê như lời chú nói với vợ. Anh chạy chậm, sát bờ, có khúc tắt máy để xuồng tự trôi, ngửa cổ nhìn lên những tán cây ngả ra mặt nước.
Gần năm giờ chiều, Khải đang ngồi trong quán cà phê ở bến chợ thì Rinh gọi.
– Anh Hai, anh còn ở dưới đó không?
– Còn. Ngồi ở quán đầu bến.
– Dạ, em tới liền.
Mười phút sau, Rinh bước vô quán, áo ướt một bên vai, tay cầm cái điện thoại. Anh ngồi xuống, kêu một ly trà đá, uống một hơi cạn nửa ly.
– Anh Hai còn nhớ cái trái trong tay ổng không?
– Nhớ.
– Hồi trưa em nhìn qua bao nilon, em thấy nó hơi lạ, mà em chưa dám nói. Giờ em chạy hết khúc sông rồi mới dám nói.
Khải đặt ly cà phê xuống.
Rinh lật điện thoại, mở một tấm ảnh anh vừa chụp: một nhánh bần ngả ra mặt nước, trái lủng lẳng, dẹt như cái bánh, phần đài ở cuống vểnh ngược ra sau giống mấy cánh sao.
– Dạ, đây là bần chua. Từ đầu cù lao xuống bến chợ, xuống tới Bờ Sậy, bờ nào có bần cũng là bần chua hết. Trái dẹt. Đài vểnh ra.
Anh lật qua tấm ảnh khác, chụp trái bần trong túi niêm phong hồi trưa.
– Còn trái này tròn như trái ổi nhỏ. Cái đài ôm sát vô trái, không vểnh. Đây là bần ổi.
Rinh tắt điện thoại, đặt nó úp xuống bàn, nhìn thẳng Khải.
– Dạ. Trái này là bần ổi. Khúc đường chú Ba Sển nói với vợ là chú đi, em đi hết rồi, anh Hai. Không có một cây bần ổi nào.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe