Chương 8: Mâm cơm nhà má Tám
Ông già nằm trên cái võng giăng giữa hai cây cột chòi, chân gác lên thành võng, nhìn Rinh bằng một con mắt. Con mắt kia đục như hột nhãn.
– Cậu hỏi ống khói nào cao nhứt hả? – Ông nói. – Hỏi tui là trúng người rồi. Nửa số ống khói ở cái xã này, tui xây.
Lê Văn Cò, mọi người kêu là Út Cò, bảy mươi bốn tuổi. Làm thợ lò từ năm mười lăm, xây ống khói từ năm hai mươi. Chòi của ông nằm cuối xóm lò, sát mé rạch, ngó ra một dãy năm cái lò bỏ. Rinh tìm ra ông lúc ba giờ chiều thứ Bảy, sau khi một người bán tạp hóa nói thôi cậu đừng hỏi tụi tui nữa, đi hỏi ông Út Cò, ổng biết từng viên gạch.
– Dạ, chú xây cái nào cao nhứt?
– Lò Sáu Hột. – Ông chỉ tay ra phía sau chòi, không cần nhìn. – Năm 2005 ổng đập ống khói cũ, kêu tui xây lại. Hai mươi hai thước. Cả xã không cái nào bằng. Người ta nói lò này lò kia cao, là nói đại. Tui đo.
Rinh nhìn theo tay ông. Cách chòi chừng trăm thước, một cái lò lớn nằm sát mé rạch, vòm lò phủ rêu xanh đen, cây cỏ mọc um tùm chung quanh. Ống khói của nó vươn lên cao vượt hẳn những cái khác, màu đỏ sẫm, ngọn hơi nghiêng.
– Lò đó còn đốt không chú?
– Ngưng từ năm 2019. Ông Sáu Hột chết năm 2021. Con cái ổng ở Sài Gòn hết, không ai về. Bỏ đó.
– Ông Sáu Hột là ai vậy chú?
– Lê Văn Hột. Anh vợ của ông Tư Nhơn ở Rạch Vồn. Cậu biết ông Tư Nhơn không? Tiệm cầm đồ. – Út Cò cười, để lộ hàm răng thưa. – Hồi đó ai cũng nói lò Sáu Hột làm ăn được là nhờ có em rể giàu. Mà cũng có người nói ngược lại.
Rinh không hỏi ngược lại là sao. Anh để ông nói. Người già nằm võng buổi chiều, có người chịu nghe, thì nói tới đâu cũng là chuyện.
– Lò đó có chuyện kỳ lắm. – Út Cò nói tiếp, hạ giọng như kể chuyện ma. – Năm 2018, đầu năm, mới ra Giêng, nghe nói thằng Nghĩa, em ruột ông Tư Nhơn, xuống bít cái ống khói phụ ở vách sau, làm ban đêm. Sáng ra tui thấy gạch mới tinh. Tui hỏi ông Sáu Hột. Ổng nói thằng Nghĩa bít, có con chuột chết trong ống, hôi quá. Chuột gì mà bít cả cái ống khói, cậu? Tui làm lò sáu chục năm, chưa thấy ai bít ống khói vì con chuột.
– Rồi ông Nghĩa đâu chú?
– Đi Campuchia. Nghe nói đánh lộn với ai đó, chạy qua bển luôn. Từ đó tới giờ không thấy về.
Rinh gật đầu, ghi nhớ, không ghi chép. Ở cái võng thứ hai giăng phía sau chòi, một người đàn ông ba mươi mấy tuổi đang nằm nghe điện thoại, nãy giờ không nói gì. Út Cò hất hàm:
– Thằng Thuận, cháu tui. Nó chở tui đi khám mắt.
Thuận gật đầu chào, rồi đứng dậy, dắt xe máy ra đường, nói đi mua thuốc lá.
Rinh hỏi câu cuối:
– Chú Út. Ở đây có ai thuộc lò Sáu Hột không? Thợ cũ.
– Thì nhiều. Thằng Quẹo nè. Hồi nó mười tám, hai mươi tuổi, nó xuống đây làm thợ lò cho ông Sáu Hột mấy năm, rồi mới về Rạch Vồn làm hồ lại. Nó thuộc cái lò đó như thuộc nhà nó. Ống khói, ống dẫn, cửa vét tro, chỗ nào nó cũng chui hết.
Năm giờ chiều, Khải gọi cho Uyên.
– Tôi báo chị, vì chị dặn có gì báo. Thằng Quẹo có thể đang trốn ở một cái lò gạch bỏ dưới Lò Đỏ. Rạng sáng mai bốn giờ tụi tôi vô. Không có gì cần chị đi. Nếu có chuyện phải khám nghiệm, tôi gọi.
– Sao không vô bây giờ?
– Ban đêm vô lò bỏ, không thấy đường, nó chạy, mình cũng không đuổi được. Rạng sáng nó ngủ say nhất. Còn nữa, – anh ngừng một chút, – càng ít người biết càng tốt. Công an xã dưới đó, ba giờ sáng tôi mới báo.
– Tôi hiểu.
– Chị đi đâu tối nay không?
– Tôi chở má xuống Rạch Vồn ăn cơm nhà người quen.
– Vậy chị chạy xe cẩn thận.
Cô cúp máy, nghĩ một chút về câu "càng ít người biết càng tốt". Rồi cô đi thay đồ.
Nhà bà Tám ở ngay sau vựa, một căn nhà ba gian mái ngói cổ, cột gỗ căm xe đen bóng, sân gạch tàu rộng, có bể nước mưa và hai cây mai già. Đèn trong nhà bật sáng. Trên bàn thờ giữa, di ảnh ông Tám mặc áo dài khăn đóng, nhang khói nghi ngút.
Bà Tám đứng chờ ở cửa, áo bà ba lụa màu nâu đất. Bà nắm tay má Lan, hai bà già ôm nhau, cười, khóc, rồi lại cười.
– Lan ơi, sao lâu quá em không xuống? Già rồi mà không chịu đi đâu hết.
– Chị Tám. Em bán bánh ngoài chợ, đi đâu được chị.
Mâm cơm dọn trên bộ ván gõ giữa nhà. Anh Đăng và vợ anh, hai đứa con nhỏ của họ, một bà cô họ của ông Tám, Uyên và má Lan. Ngân bưng thức ăn từ dưới bếp lên, đặt từng tô, từng dĩa, rồi lặng lẽ ngồi ở góc ván.
Canh chua cá linh nấu bông điên điển, cá mới đầu mùa nước nổi, con nào cũng bằng ngón tay. Cá lóc kho tộ. Gà luộc chấm muối tiêu chanh. Một dĩa rau đồng hái ở bờ mương sau vựa.
– Ăn đi con. – Bà Tám gắp cá bỏ vô chén Uyên. – Ở trên tỉnh làm gì có cá linh tươi như vầy.
Bữa cơm vui. Bà cô họ kể chuyện hồi xưa đi chợ nổi. Anh Đăng hỏi Uyên chuyện mua đất, chuyện giấy tờ, cô trả lời được thì trả lời, không được thì nói không biết. Má Lan với bà Tám nói chuyện người này người kia trong xóm cũ, ai mất, ai cưới, ai đi nước ngoài.
Giữa bữa, trong túi áo bà ba của bà Tám có tiếng chuông reo, tiếng chuông kiểu cũ, tít tít. Bà móc ra một cái điện thoại bấm phím màu đen, sơn tróc, liếc màn hình, rồi bấm tắt, bỏ lại vô túi.
– Mối trái cây bên Campuchia. – Bà nói. – Giờ này còn gọi, mai má gọi lại.
– Má Tám xài hai cái điện thoại hả má? – Uyên hỏi.
Ngân ngồi ở góc ván, cười nhẹ.
– Má xài cái máy bấm đó mười mấy năm rồi chị. Con mua máy mới, má không chịu. Má nói mối bên kia quen gọi số đó.
– Già rồi, đổi chi con. – Bà Tám xua tay.
Ăn xong, Ngân dọn chén. Uyên xuống bếp phụ, dù bà Tám la. Dưới bếp, Ngân đứng rửa chén bên lu nước, tay thoăn thoắt. Uyên đứng bên cạnh lau.
– Em học kế toán ở đâu?
– Dạ, trung cấp ngoài phường, học tối.
– Má Tám nói em ngoan lắm.
Ngân cười, không nói gì. Một lúc sau, bà Tám đi xuống bếp lấy thêm ấm trà, đứng nhìn hai đứa.
– Con Ngân này tội lắm con. – Bà nói với Uyên, như Ngân không đứng đó. – Ba nó bỏ đi năm 2018, không một lời. Vậy mà năm nào tới sinh nhựt nó, mùng hai tháng Mười, sáng sớm cũng có ai để một bó bông súng tím ở cổng vựa. Buộc bằng cọng lác. Không ai biết ai để. Con nhỏ nó tin là ba nó.
Ngân cúi đầu rửa chén, không ngẩng lên. Cái tô trong tay cô xoay xoay dưới vòi nước lâu hơn cần thiết.
Uyên không biết nói gì. Cô đặt cái chén đã lau lên kệ.
Lên nhà trên, bà Tám ngồi xuống ghế, thở dài.
– Cái vụ ông Ba Sển, nghe nói bắt được thằng Lép rồi hả con?
– Dạ, con không nói được má Tám.
– Ừ, má biết. Má không hỏi. – Bà Tám rót trà ra ly, đẩy về phía Uyên. – Tội ổng. Nghe nói chết mà tay còn níu nhánh bần.
Uyên đang cầm ly trà. Ly trà dừng giữa chừng, cách môi cô một gang tay.
– Ai nói vậy má Tám?
– Người ta đồn ầm ngoài chợ mấy bữa nay đó con. – Bà Tám thổi ly trà. – Ông Lượm kéo đáy chớ ai. Ổng thấy rồi ổng về nói. Ở dưới này cái gì mà giấu được.
Uyên nghĩ tới ông già đứng ngoài dây, rướn cổ nhìn vô, buột miệng "trái bần mà". Nghĩ tới Khải dặn ông "đừng nói đại với ai nữa". Ở Rạch Vồn, dặn một ông già đừng kể chuyện, thì cũng như dặn con nước đừng lên.
Cô uống ngụm trà. Cô không nói gì thêm.
Chín giờ kém, má Lan ngáp. Uyên đứng dậy xin phép về.
– Ở lại ăn chè bà ba đã con. – Bà Tám nắm tay cô. – Con Ngân nấu một nồi, có khoai, có đậu phộng.
– Dạ thôi má Tám. Mai tụi con đi sớm, xuống mấy cái lò dưới Lò Đỏ.
Cô nói xong mới thấy mình nói nhiều. Nhưng câu đã ra khỏi miệng rồi, mà người nghe là má Tám, là người đã lo cho cô ăn học, người vừa đứng giữa chợ mắng Tư Nhơn vì một bà góa. Cô không nghĩ thêm.
– Ừ, vậy về ngủ sớm đi con. – Bà Tám vỗ tay cô. – Dưới đó lò bỏ, rắn rít nhiều lắm. Đi đường cẩn thận nghen.
Bà dúi vô tay má Lan một hộp chè bà ba còn ấm, đứng ở cổng vựa nhìn theo cho tới khi xe Uyên quẹo khỏi con đường dọc bến.
Hai giờ sáng, Đinh Văn Quẹo nằm trên một tấm chiếu trải trong buồng đốt của lò Sáu Hột, mở mắt nhìn vô bóng tối.
Anh không ngủ được. Anh không ngủ được đã sáu đêm. Trong lò, mùi gạch nung cũ, mùi đất ẩm, mùi phân dơi. Tiếng muỗi vo ve. Tiếng nước rạch lắc rắc vỗ vô chân lò. Anh nằm nghe những tiếng đó như người ta nghe tiếng nhà mình.
Rồi anh nghe tiếng máy vỏ lãi.
Tiếng máy từ ngoài sông Mang Thít rẽ vô rạch, chậm lại, rồi tắt. Không ai chạy vỏ lãi vô rạch này lúc hai giờ sáng. Quẹo ngồi dậy, không gây tiếng động. Qua khe cửa lò, anh thấy hai đốm đèn pin quét qua quét lại trên mặt nước, rồi trên bờ, rồi trên vòm lò bên cạnh.
Tiếng chân lội bùn. Tiếng hai người đàn ông nói chuyện nhỏ. Một giọng anh nhận ra liền, cái giọng cười cười đã ra đứng trước cửa nhà anh: Sáu Rô. Sáu Rô nói một câu gì đó, Quẹo chỉ nghe lọt nửa câu, rồi đèn pin rọi thẳng vô cửa lò.
Quẹo không chạy ra cửa. Anh bò ngược vô sâu trong buồng đốt, tới chỗ miệng ống dẫn khói nằm sát nền, cái miệng gạch hình vòm chỉ vừa một người nằm sấp. Hồi mười tám tuổi, anh đã chui vô ống dẫn này không biết bao nhiêu lần để cạo muội. Nó chạy dưới nền lò, chừng mười thước, tới chân ống khói lớn, ở đó có cái cửa vét tro bằng sắt, ngó ra mé rạch.
Anh chui vô, bò bằng khuỷu tay. Bụi than xộc vô mũi. Sau lưng anh, ánh đèn pin rọi vô buồng đốt, quét qua tấm chiếu, qua bịch mì gói, qua cái bếp than nhỏ còn đỏ tro.
– Nó mới ở đây nè! – Tiếng Sáu Rô, gần.
Quẹo bò nhanh hơn. Tới chân ống khói, anh lấy vai đẩy cái cửa vét tro. Cửa sắt rỉ kẹt cứng. Anh đẩy lần nữa, lấy hết sức. Bản lề bật ra, hai viên gạch quanh khung cửa bong theo, rơi xuống đất một tiếng cộp.
Anh lăn ra ngoài, lăn xuống mé rạch, trườn xuống nước, níu vô một bè lục bình, để nước ròng kéo đi.
Từ dưới nước, anh ngoái lại. Hai đốm đèn pin chạy quanh chân ống khói, rọi lên, rọi xuống, rọi ra rạch. Không đốm nào rọi trúng bè lục bình.
Hai tiếng rưỡi sau, đèn xe công an mới rọi tới đầu xóm lò.
— Hết chương 8 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe