Chương 22: Bó bông súng lúc bốn giờ rưỡi
Thằng nhỏ đạp xe tới cổng vựa Tám Kiều lúc bốn giờ hai mươi tám phút, và nó không biết có năm người đang nhìn nó.
Nó chừng mười hai tuổi, ốm nhom, áo thun ba lỗ, quần đùi, chân không. Chiếc xe đạp cũ không có đèn, sên kêu lạch cạch. Trên ba-ga sau, kẹp bằng một sợi dây thun, là một bó bông súng tím, cọng dài chừng một sải tay, buộc túm lại bằng mấy cọng lác.
Nó dừng xe, không xuống, một chân chống đất. Nó gỡ bó bông, dựng nghiêng vô cánh cổng sắt, chỗ giữa hai song sắt, cho bó bông đứng được mà không ngã. Rồi nó nhìn quanh một vòng, cái nhìn của con nít làm việc người lớn sai mà không hiểu vì sao phải làm lén. Rồi nó đạp đi, về phía bến chợ.
Khải ngồi dưới mái hiên tiệm vàng đóng cửa, cách cổng vựa chừng hai chục thước, lưng dựa vô cánh cửa cuốn, cái nón kết kéo sụp xuống trán. Anh không nhúc nhích. Anh chỉ nói một chữ vào cái tai nghe nhỏ gắn trên cổ áo:
– Theo.
Năm người đã vô vị trí từ ba giờ sáng.
Sáu ngày trước, sáng thứ Bảy sau đêm Trung thu, Uyên đã gọi cho Khải, kể câu Ngân nói ở cổng vựa. Anh nghe xong, im một lúc, rồi hỏi cô nghĩ sao.
– Em nghĩ con nhỏ sợ. – Uyên nói. – Nó nghe tin người trong lò không phải ba nó. Nó biết ba nó có bó bông súng. Nó tự đoán ra là sẽ có người canh. Nó không biết gì về kế hoạch của mình hết.
– Nó có cách nào báo cho người để bông không?
– Em không biết.
Khải không đổi kế hoạch. Anh chỉ đổi một điều: anh không chờ người để bông tới tận tay. Anh để thêm một người ở bến chợ, và Rinh ngồi sẵn trên một chiếc xuồng máy nhỏ ở bến cá, máy để nguội, dây cột hờ.
Ba giờ, phố chợ Rạch Vồn tối om. Chỉ có ngọn đèn đường ở đầu bờ kè, vàng vọt, bị một đám thiêu thân bu kín. Bốn giờ, bà chủ quán cà phê bên kia đường kéo cửa, bê ghế nhựa ra, nhóm lò than. Diệp ngồi vô cái bàn trong góc quán, gọi ly cà phê sữa nóng, ôm cái điện thoại như một cô gái đi chợ sớm chờ bạn. Bốn giờ mười lăm, mấy người làm công đầu tiên của vựa tới, đứng hút thuốc trước cổng chờ người mở khóa. Không ai để ý cái cổng sắt có gì lạ. Năm nay chưa có gì lạ.
Bốn giờ hai mươi tám, thằng nhỏ tới.
Người của đội ở bến chợ thấy thằng nhỏ dựng xe đạp vô gốc cây bàng, chạy xuống bến cá, nói gì đó với một người đứng dưới một chiếc ghe hàng. Người đó đưa cho nó cái gì nhỏ, nó cầm, chạy lên, đạp xe đi. Chiếc ghe tháo dây.
– Ghe tách bến rồi anh Hai. – Giọng người đó trong tai nghe, gấp. – Ghe hàng mui thấp. Có con chó đen ngồi trên mũi.
Rinh nghe. Anh giật dây cột xuồng, giật dây nổ máy. Máy kêu khục khặc hai lần rồi nổ. Từ bến cá, anh thấy chiếc ghe đã ra giữa dòng, không đèn, đang ngược nước lên phía đầu cù lao. Trời còn tối. Chỉ có một vệt xám rất mỏng ở phía hạ nguồn, và cái bóng đen của chiếc ghe in trên mặt nước loang loáng ánh đèn bờ.
Anh chạy theo. Không bật đèn. Giữ khoảng cách chừng hai trăm thước.
Chiếc ghe chạy không nhanh. Nó ngược lên chừng một cây số, rồi bất ngờ quẹo trái, cặp sát bờ, rúc vô một con rạch nhỏ đổ ra sông, hai bên dừa nước mọc rậm như tường. Rinh tới miệng rạch thì chỉ còn nghe tiếng máy, lụp bụp, sâu bên trong.
Anh chạy vô. Con rạch hẹp, quanh co, nước ròng đã rút làm lộ ra hai bờ bùn đen bóng. Tàu dừa nước quẹt lên mặt anh, ướt sương. Chạy được chừng năm phút, con rạch chia làm ba nhánh. Rinh tắt máy, ngồi im, nghiêng tai.
Không còn nghe tiếng máy nào nữa.
Anh ngồi đó chừng mười phút, trong cái im lặng chỉ có tiếng dế và tiếng nước rỉ rả. Rồi anh nổ máy, chạy vô từng nhánh. Nhánh thứ nhất cụt, đâm vô một cái cống bê tông. Nhánh thứ hai chạy ra một cánh đồng. Nhánh thứ ba ra lại sông lớn ở một khúc phía trên, chỗ người ta đóng đáy. Không có chiếc ghe nào. Không có con chó nào.
Lúc trời sáng hẳn, Rinh ghé một cái bến nhà dân ở nhánh thứ ba. Một bà già đang ngồi rửa nồi dưới bậc. Anh hỏi có thấy chiếc ghe hàng nào có con chó mực chạy ngang không.
– Ghe thằng Tâm chớ ai. – Bà nói, không ngẩng lên. – Ghe Lò Đỏ. Nó chạy rạch này hoài, tắt ra sông cho gần. Mới đi ngang hồi nãy, chạy lẹ lắm.
– Dạ, ổng ở đâu bà?
– Đâu bên Lò Đỏ. Ở thuê. Chạy ghe bỏ mối cho mấy vựa ngoài chợ Rạch Vồn.
Rinh cảm ơn, ngồi lại trên xuồng, gọi Khải.
– Dạ anh Hai. Em mất dấu trong rạch. Ổng thuộc rạch hơn em. – Giọng anh không có gì là bào chữa. – Mà có tên rồi. Tâm. Chạy ghe Lò Đỏ.
Khải không rời mái hiên tiệm vàng. Anh ngồi đó tới năm giờ.
Năm giờ, một người làm công mở khóa cổng. Anh ta thấy bó bông súng, cười, nói gì đó với mấy người đứng hút thuốc, có người gật gù. Anh ta không đụng vô. Anh ta để nó đó, mở cánh cổng còn lại, rồi đi vô trong.
Năm giờ mười, bà Tám đi ra.
Bà mặc áo bà ba trắng ngà, đầu quấn cái khăn rằn, tay cầm cái kéo cắt cuống trái như mọi buổi sáng. Bà đi tới cổng, dừng lại trước bó bông súng. Bà đứng nhìn nó một lúc. Rồi bà cúi xuống, nhặt lên, hai tay ôm vô lòng như ôm một đứa nhỏ, xoay xoay cái nút lác buộc ở cuống.
Rồi bà ngẩng lên, nhìn ra con đường. Nhìn qua quán cà phê, chỗ Diệp đang cúi đầu vô điện thoại. Nhìn qua dãy tiệm còn đóng cửa. Nhìn qua mái hiên tiệm vàng.
Khải ngồi im dưới vành nón. Anh không biết bà có thấy anh không. Từ chỗ bà đứng tới chỗ anh, trời còn mờ, mái hiên tối.
Bà quay vô, ôm bó bông súng đi qua sân. Khải nghe tiếng bà gọi, vọng ra, giọng trầm ấm như mọi khi:
– Ngân ơi! Dậy con. Ba con để bông cho con nè.
Ở phường, Uyên ngồi ở bàn trong phòng mình từ bốn giờ, đèn không bật, cái điện thoại úp trên mặt bàn. Má cô còn ngủ ở buồng ngoài. Lúc năm giờ hai mươi, điện thoại rung một cái.
"Có bông. Một thằng nhỏ để, có người thuê. Người thuê đi ghe, mất dấu trong rạch. Tên Tâm, ghe Lò Đỏ."
Cô đọc hai lần. Cô nghĩ tới con bé Ngân, sáng nay mười chín tuổi, đứng ở cổng vựa ôm bó bông súng. Cô nghĩ tới câu "chị đừng cho ai tới cổng vựa nghen chị".
Không ai tới cổng vựa. Người ta chỉ ngồi nhìn.
Cô gõ một chữ "Dạ", rồi xóa. Gõ "Em biết rồi", rồi gửi.
Phan Thanh Tâm, sinh năm 1984. Diệp tra ra cái tên đó từ số đăng ký chiếc ghe trước bảy giờ sáng. Một chiếc ghe gỗ chở hàng, đăng ký năm 2018, địa chỉ chủ phương tiện ở một xóm ven sông Mang Thít, xã Lò Đỏ.
– Lò Đỏ. – Khải nói khi nghe. Anh không nói gì thêm. Cái tên xã đó đã nặng sẵn trong vụ này rồi.
Anh xin anh Đạt cho làm văn bản mời Phan Thanh Tâm lên làm việc, với tư cách người có liên quan. Chưa có gì để bắt. Một người thuê thằng nhỏ để bó bông súng ở cổng vựa vào ngày sinh nhật một đứa con gái, không phải tội. Người đó chạy ghe nhanh, thuộc rạch, cũng không phải tội.
Một giờ trưa, Rinh và hai người Công an xã Lò Đỏ tới cái xóm ven sông Mang Thít. Nhà Tâm là một căn nhà vách tôn thuê lại của một bà góa, sát mé sông, có cầu ván ra bến. Cửa khóa. Bến trống, không có ghe.
Bà góa chủ nhà ngó họ qua hàng rào.
– Thằng Tâm hả? Nó về hồi trưa đó chớ. Ghe cặp bến chừng nửa tiếng. Nó dắt con chó qua gửi tui, nói nó đi bỏ hàng xa, mấy bữa mới về. Con chó đây nè.
Trong sân nhà bà, một con chó mực bị cột vô gốc cây mận bằng sợi dây dù, nằm ngóc đầu nhìn ra sông. Nó không sủa người lạ. Nó chỉ nhìn ra sông.
– Ổng đi hướng nào bà?
– Ra sông lớn. – Bà góa chỉ. – Lạ lắm nghen. Mấy năm nay nó đi đâu cũng dắt con chó theo. Con chó này ngồi mũi ghe từ hồi còn nhỏ xíu. Bữa nay nó không cho đi.
Rinh ngồi xổm xuống trước con chó. Nó nhìn anh một cái, rồi lại nhìn ra sông.
Họ chờ ở xóm đó tới chiều. Chiếc ghe không về.
Chín giờ tối, sông Cổ Chiên ở khúc giữa cù lao Mây và bến chợ Rạch Vồn tối đen, gió chướng chưa về nhưng gió đêm đã lạnh. Một chiếc sà lan chở lúa hơn ba trăm tấn xuôi dòng, đèn pha trên ca bin rọi một vệt trắng dài trên mặt nước, đèn hành trình xanh đỏ hai bên mạn.
Người tài công sà lan sau này khai, giọng còn run, rằng anh không thấy gì cho tới khi nó ở ngay trước mũi. Một chiếc ghe gỗ không đèn, chạy ngang từ phía bờ cù lao, cắt thẳng qua mũi sà lan. Anh bẻ lái, kéo còi, la. Không kịp. Tiếng gỗ vỡ, một tiếng rắc khô khốc lẫn trong tiếng máy. Sà lan rùng mình. Khi anh chạy ra mũi rọi đèn, chỉ còn mấy tấm ván và một cái nắp hầm trôi lềnh bềnh, và một đám sọt nhựa đang chìm dần.
Anh và hai thủy thủ rọi đèn tìm gần một tiếng. Không thấy ai.
Chín giờ hai mươi, anh gọi báo cảnh sát đường thủy. Mười giờ kém mười lăm, cảnh sát đường thủy, sau khi kéo được một mảnh ván mạn có sơn số đăng ký, đối chiếu với thông báo của đội trọng án gửi buổi chiều, gọi cho Khải.
Khải đứng trên bờ kè bến chợ Rạch Vồn lúc mười một giờ đêm.
Ngoài sông, hai chiếc ca nô của cảnh sát đường thủy và một chiếc xuồng của Công an xã chạy qua chạy lại, đèn pha quét lên quét xuống mặt nước. Chiếc sà lan lúa đã neo lại giữa dòng, đèn ca bin vẫn bật sáng, như một tòa nhà nhỏ đứng giữa sông. Trên bờ, người trong chợ thức dậy, đứng thành từng tốp, bàn tán. Ai đó nói thằng Tâm chạy ghe Lò Đỏ. Ai đó nói tội nghiệp, hiền lắm. Ai đó nói ban đêm chạy ghe không đèn là tự tìm đường chết.
Rinh tới đứng cạnh anh. Áo anh còn dính bùn từ buổi sáng ở rạch.
– Dạ anh Hai. Nước đang ròng. Có chết thì xác trôi xuống phía dưới, quanh quẩn tới vàm Bần Quỳ. Có sống thì… – Anh ngừng. – Bờ cù lao cách chỗ đụng chừng ba trăm thước. Người bơi giỏi, có áo phao, thả theo nước, tấp vô được.
Khải không trả lời. Anh nhìn cái vệt đèn pha sà lan quét qua mặt nước, rồi quét lại, như người ta lấy tay vuốt một tấm vải đen mà không vuốt phẳng được.
Anh nghĩ tới con chó mực bị cột dưới gốc mận, nằm ngóc đầu nhìn ra sông. Nghĩ tới căn nhà vách tôn khóa cửa. Nghĩ tới bó bông súng ở cổng vựa sáng nay, và một người đàn ông tám năm trước bước ra khỏi lò Sáu Hột để lại đồ của mình trên một cái xác không phải mình.
– Rinh. – Anh nói. – Người ta không chết hai lần dễ vậy đâu.
— Hết chương 22 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe