Chương 36: Cây cọc mới
– Chị Nhàn ơi, chúc mừng năm mới. Em chúc nhà mình một năm bình an, bé Ốc chóng lớn, thầy Lộc dạy vui, chị lặn khỏe.
Giọng Hòa đi ra từ cái vòng trên cổ tay Nhàn lúc sáu giờ sáng mùng một Tết, ấm, dịu, đúng giờ như mọi buổi sáng. Cô đang ngồi ở mũi xuồng công vụ, xuồng đang chạy ra khỏi cống số hai, nước sông màu cà phê sữa, lục bình trôi từng bè, sương sớm còn giăng mỏng trên rừng mắm.
– Chúc Hòa năm mới. – Cô nói.
– Dạ. Em cảm ơn chị.
Thằng Ốc ngồi giữa xuồng, mặc bộ đồ mới màu đỏ bà Tư may cho, quần dài quá khổ phải xắn lên hai gấu. Nó ôm trong lòng cái đèn ông sao méo cánh. Lộc ngồi ở đuôi xuồng, cầm lái. Anh mặc cái áo sơ mi trắng, cái áo anh mặc hôm lễ tưởng niệm và hôm Quảng trường ngập, đã giặt sạch, ủi phẳng.
– Cô Hòa ơi. – Thằng Ốc nói, ngước lên cổ tay mẹ. – Năm mới cô đừng nói dối con nha.
Hòa im một nhịp.
– Cô sẽ cố, Ốc à. – Hòa nói. – Có lúc cô không biết nói sao cho đúng mà không làm con buồn. Lúc đó cô sẽ nói với con là cô không biết nói sao.
Thằng Ốc ngẫm nghĩ, cắn môi dưới.
– Dạ. Vậy cũng được.
Từ tháng Mười Hai, Nhàn xin Hòa một việc, và Hòa đã làm. Khi cô ở dưới nước, Hòa im. Cái vòng chống nước vẫn đeo trên cổ tay, Bạc vẫn bơi theo cách một mét, vẫn ghi, vẫn gửi. Nhưng dưới hai mét nước, không có giọng nói nào đi qua xương cổ tay cô nữa. Cô nói với Hòa: ở dưới đó chị cần im. Hòa nói: dạ, chị lặn thì em im. Cô không biết nó có giữ lời mãi không. Hai tháng nay nó giữ.
Cồn Mắm hiện ra trong sương, rừng mắm xanh thẫm, gốc mắm già to hai người ôm ở đầu cồn, rễ thở chĩa lên khỏi bùn như hàng ngàn cây bút chì.
Dưới gốc mắm, chiếc ghe sơn xanh có cặp mắt đỏ ở mũi đã neo lại chỗ cũ.
Nghị quyết di dời Cồn Mắm đã được Hội đồng hủy từ giữa tháng Mười Một, bốn phiếu trên bảy, cũng bốn phiếu như đêm bão. Mười một chiếc ghe về lại được bảy. Bốn hộ kia ở luôn trong đê, căn hộ có máy lạnh, có thang máy, có con cháu ghé thăm. Bà Chín về. Con mèo mướp của bà lại ngồi chồm hổm trên mạn ghe, nheo mắt nhìn xuồng công vụ chạy tới.
Ông Tám đứng ở mũi ghe, áo bà ba nâu mới, đầu không đội nón. Dưới chân ông, trên sạp ghe, nằm hai cây cọc.
Cây cọc cũ, đen bóng, những vạch khắc mười phân đều tăm tắp, dấu "15-10-54" gần ngọn. Và một thân đước mới, thẳng, to bằng bắp chân, vỏ còn nâu đỏ, mùi gỗ tươi hăng hắc.
– Từ hồi tui làm trạm, mỗi lần cây cọc mục là tui cắm cây mới, chép dấu cây cũ qua. – Ông Tám nói, khi cả nhà đã leo lên ghe. – Cây này là cây thứ năm. Cây cũ để làm gì thì để. Hổng mục mà nó ở chỗ người ta rồi, nó hổng phải của tui nữa.
Ông không nói rõ. Nhưng Nhàn biết. Tuần trước Vỹ đã chèo một chiếc xuồng nhỏ ra đây, một mình, xin ông cây cọc cũ. Hội đồng muốn dựng nó ở Quảng trường Mặt Nước, cạnh tấm bia đá, không khắc thêm gì lên bia. Ông Tám nói để ông nghĩ. Ông nghĩ một tuần.
Họ chép dấu suốt buổi sáng.
Ông Tám đặt hai cây cọc nằm song song trên sạp ghe, gốc ngang gốc. Ông cầm cuộn thước dây vải đã sờn, đo từng vạch trên cây cũ, đánh dấu bằng bút chì lên cây mới. Rồi ông khắc. Con dao nhỏ trong bàn tay đen sạm của ông đi chậm, đều, từng vạch mười phân. Mỗi năm vạch một con số. Rồi những vết khắc ngắn có ngày tháng, ông chép đúng chỗ, đúng chữ, chép cả những nét run của chính ông năm xưa.
"20-11-59." "3-10-57." "8-11-55."
Tới vết khắc gần ngọn, ông dừng lại. Ông đặt ngón tay lên dấu cũ, rồi đặt ngón tay lên chỗ tương ứng trên cây mới. Ông không khắc ngay. Ông nhìn Nhàn.
– Bây khắc.
Nhàn cầm con dao. Tay cô không run. Cô khắc từng chữ số, sâu, chậm. "15-10-54." Ngay vạch hai mét sáu. Nét dao của cô thẳng hơn nét dao của ông Tám năm xưa. Cô không cố làm cho nó run.
Bà Tư tới lúc mười giờ, đi xuồng đưa đò của bà Chín, mang theo hai cái giỏ đệm. Thằng Tâm đi theo, vác một thúng bánh tét. Rồi Tòng tới, đi một chiếc xuồng nhỏ mượn của tổ bảo trì, mang theo nửa nồi thịt kho hột vịt má anh nấu. Rồi Hiển, áo sơ mi xanh nhạt không đeo bảng tên, tay cầm một hộp mứt gừng.
– Năm nào em cũng mang mứt gừng tới nhà thầy. – Thằng nhỏ nói, cười hì hì, đặt hộp mứt lên sạp ghe. – Năm nay nhà thầy dời ra ghe ông Tám, em mang ra ghe.
Hiển chưa về Kinh Lũng ăn Tết. Mẹ nó đã đỡ bệnh, nó nói, đã gọi qua vòng chúc Tết từ sáng. Bà khóc một chặp vì thằng con xuất hiện trên bản tin mấy lần, đứng sau lưng ông chủ tịch Hội đồng trong phiên điều trần về Đêm nước hồi tháng Mười Hai. Nó vẫn làm ở Viện. Nó vẫn trực đêm. Từ khi Lõi Đông chạy lại sau ba tuần ngập, có một ô vuông mới trên bức tường màn hình của phòng trực. Đó là ô của những cái cống trên đê bao, và mỗi ô có một dòng chữ xám: "Lệnh mở: chờ xác nhận tại chỗ." Hội đồng đã thông qua điều đó trong tháng Mười Hai. Trưng cầu sửa Hiến chương sẽ tổ chức vào mùa khô. Không ai nghĩ nó sẽ không qua.
Mâm cơm Tết bày trên sạp ghe, dưới mui. Bánh tét lá chuối nhân đậu xanh mỡ hành. Thịt kho hột vịt nước dừa của má Tòng. Dưa giá. Một đĩa củ kiệu bà Tư ngâm từ tháng Chạp. Một nồi canh khổ qua nhồi thịt, vì ông Bền thích. Một đĩa ốc len xào dừa, vì ông Tư Sang thích.
Trên vách ghe, cái mũ bảo hộ vàng sứt mép treo lại trên cái đinh cũ.
Gần trưa, Lạc Quang Vỹ tới.
Ông chèo một chiếc xuồng nhỏ, một mình, như lần ông tới xin cây cọc. Áo sơ mi xám, không cà vạt, một bó nhang trong túi áo. Ông áp xuồng vào mạn ghe, không leo lên. Ông ngồi trong xuồng, nhìn Nhàn.
– Tôi xin thắp cho ông Bền một nén nhang. – Ông nói. – Nếu chị cho.
Nhàn nhìn ông một lúc. Rồi cô đưa tay ra, kéo ông lên.
Vỹ thắp ba nén nhang trước cái mũ vàng. Ông không khấn thành lời. Ông đứng đó lâu, đầu cúi, hai tay chắp. Rồi ông cắm nhang vào cái lư hương bằng lon sữa bò ông Tám vẫn dùng.
Ông móc trong túi áo ra một tấm thiệp nhỏ, đưa cho ông Tám.
– Của giáo sư Khanh. Bà ấy dọn ra khỏi Hàng Dương từ tháng Mười Hai, ở với cháu gái bên phường Bãi Dương. Bà ấy nhờ tôi đưa.
Ông Tám không đọc được chữ nhỏ. Ông đưa cho Lộc. Lộc đọc to. Nét chữ nghiêng, nhỏ, run nhẹ mà không sai một dấu.
"Gửi anh Tám. Cây cọc mới nhớ chép đủ dấu. Chừa chỗ cho con nước năm nay. Khanh."
Ông Tám cầm lại tấm thiệp, nhét vào túi áo bà ba, chỗ ông vẫn nhét điếu thuốc rê chưa đốt.
Chiều, nước ròng. Bùn lộ ra một vạt rộng, lấp lánh như da cá dưới nắng Tết.
Ông Tám và thằng Tâm vác cây cọc mới ra chỗ cũ, cách gốc mắm già năm bước. Cái lỗ tròn từ đêm cây cọc cũ bị nhổ đi đã bị bùn lấp gần đầy. Tâm đè cả người lên đầu cọc như chiều Thứ Sáu dưới chân đê cống số hai. Ông Tám đứng bên cạnh, chỉ trỏ. Cây cọc lún xuống từng tấc. Lần này ông không cần hỏi phao một trăm mười bảy. Ở đây có cái mốc của trạm thủy văn cũ, một cục bê tông chôn dưới gốc mắm, ông nhớ chỗ.
– Rồi. – Ông nói.
Cây cọc đứng thẳng trong bùn, vỏ nâu đỏ, những vạch khắc mới tinh. Trên dấu "15-10-54" còn một khoảng gỗ trống.
Ông Tám móc con dao ra, đưa cho thằng Ốc.
– Đêm bảy tháng Mười Một, ngoài cồn này nước lên ba mét. Thấp hơn chỗ chân đê một tấc. – Ông nói. – Bây khắc.
Thằng Ốc cầm con dao. Nó nhìn lên. Vạch ba mét cao hơn đầu ba nó. Nó nhón chân, rướn hết cỡ, như hồi tháng Chín. Ngón tay nó qua khỏi vạch hai mét được một đốt. Nó đã lớn thêm một chút. Không tới được ba mét.
– Con lớn rồi con với tới. – Nó nói, mếu.
Lộc cúi xuống, nhấc bổng con lên, đặt lên vai mình.
Thằng Ốc ngồi trên vai ba, hai chân kẹp cổ ba, một tay bám tóc ba, một tay cầm con dao. Nhàn đứng dưới bùn nhìn hai cha con, và cô nhớ cái cảm giác lúc nhỏ được ba nhấc bổng lên vai, nhẹ hẫng, như cổ tay không đeo gì.
Ông Tám đứng bên cạnh, nắm lấy bàn tay nhỏ đang cầm dao của thằng Ốc, đặt mũi dao vào đúng vạch ba mét.
– Khắc ngày trước. Rồi tới tháng. Rồi tới năm. Khắc sâu vô, cho nước nó liếm hoài hổng mất.
Thằng Ốc khắc. Nét dao nguệch ngoạc, sâu cạn không đều, số bảy giống số một, số sáu méo một bên như cánh dưới bên phải của cái đèn ông sao. Ông Tám không sửa.
"7-11-60."
Lộc đặt con xuống. Thằng nhỏ đứng trong bùn, ngửa cổ nhìn vết khắc của mình, cái nhìn nghiêm trang của con nít khi chạm vào một thứ chúng biết là của người lớn.
Chiều xuống, nước bắt đầu lên.
Họ ngồi trên mũi ghe, ăn nốt chỗ bánh tét, uống trà. Lộc lấy trong túi áo ra một tờ giấy ô li gấp tư. Không phải tờ câu hỏi. Là một tin nhắn cô Hằng gửi anh tối giao thừa, anh đã chép tay lại bằng cây bút máy cũ của ba anh. Cô Hằng ngưng viên thuốc từ tháng Mười Một. Cô nhắn rằng tối giao thừa, đang ngồi gói bánh, cô bỗng nhớ ra cả bài ca dao.
Lộc đọc, chậm, rõ, cái giọng nhỏ mà rõ của anh.
– Ra đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Không ai nói gì. Bà Tư lau mắt bằng khăn rằn. Ông Tám vấn một điếu thuốc rê, lần này ông đốt.
Trời tối dần. Bên kia đê, Vạn Hòa lên đèn, từng dãy chung cư màu phấn sáng lên như những hộp phấn của trẻ con. Đèn trên mặt đê sáng thành một dải trắng, một nét bút chì kẻ ngang chân trời. Cái vòng trên cổ tay Nhàn nằm im.
Thằng Ốc bật cái đèn pin nhỏ buộc giữa cái đèn ông sao. Ánh sáng xuyên qua năm cánh giấy kiếng đỏ. Nó leo xuống bùn, lội ra chỗ cây cọc mới, cầm cán tre giơ cao. Nước mới lên tới vạch tám tấc, liếm quanh mắt cá nó. Nó đứng đó, cái đèn méo một cánh trong tay, ánh đỏ hắt lên thân đước nâu, lên những vạch khắc mười phân, lên dấu "15-10-54" nét dao thẳng, lên dấu "7-11-60" nét dao nguệch ngoạc.
Cái đèn không bay được. Nó cầm được.
Trên mũi ghe, Nhàn ngồi nhìn con, và nhìn con nước lên, từ từ, đều, như người ta rót nước vào ly.
— Hết —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe