Chương 22: Nhà an dưỡng Hàng Dương
– Cô Thu à? Cô Thu đến rồi à? Con Mướp nhà tôi lại trèo lên mái rồi, cô bảo thằng bé hàng xóm xuống bắt hộ tôi với.
Bà cụ ngồi trên chiếc ghế bành bọc vải hoa, cạnh cửa sổ, hai bàn tay gầy đặt trên tấm chăn len màu cỏ úa. Tóc bà bạc trắng, cắt ngắn ngang tai, chải gọn. Đôi mắt sau cặp kính tròn nhìn Nhàn, nhìn rất lâu, rồi trôi đi đâu đó qua vai cô, ra phía hàng dương ngoài cửa sổ.
– Dạ, con không phải cô Thu. – Nhàn nói. – Con là Nhàn. Con gái ông Kha Văn Bền.
– Bền à. – Bà cụ lặp lại. – Bền. Phố Cửa Gió ngày xưa có một hàng bánh cuốn tên Bền. Cô ăn bao giờ chưa? Bánh mỏng như giấy.
Cô điều dưỡng trẻ đứng ở cửa phòng mỉm cười với Nhàn, một cái cười xin lỗi.
– Bà Khanh vậy đó chị. Bà hay nhắc con mèo với cái phố hồi bà còn nhỏ ngoài Kinh Lũng. Mấy năm nay bà không nhận ra ai hết. Chị là người đầu tiên tới thăm bà trong năm nay.
– Cảm ơn em.
– Chị cứ ngồi chơi. Bốn giờ là giờ bà ra vườn. Chị đẩy xe cho bà giúp em được không? Hôm nay em có sáu bà.
Nhà an dưỡng Hàng Dương nằm ở cuối phường Bãi Dương, sát bờ biển phía nam đặc khu, nơi đất lấn biển đã cũ, cây cối đã kịp lớn. Một dãy nhà thấp sơn trắng, mái ngói đỏ, hành lang có mái che chạy quanh một khu vườn rộng. Hàng dương già trồng dọc bờ rào, gió biển thổi qua kêu vi vu như ai thổi sáo. Nhàn đã đi xe tự lái bốn mươi phút từ Rạch Đông xuống đây. Lúc cô đăng ký thăm ở quầy, cái vòng trên cổ tay đã rung lên trước khi cô cất lời.
"Chị Nhàn đi thăm bà Khanh hả chị? Bà ít có ai thăm lắm. Bà sẽ vui."
Nhàn đã nói "ừ". Cô không biết còn nói được gì khác.
Bốn giờ đúng, cô đẩy chiếc xe lăn ra vườn.
Vườn đẹp. Có hồ cá nhỏ, có giàn hoa giấy tím, có những chậu sứ trắng đặt dọc lối đi lát gạch, có ghế đá dưới bóng cây bàng. Bà Khanh ngồi trên xe, tấm chăn len trên đùi, miệng lẩm bẩm về con mèo Mướp. Nhàn đẩy bà đi chậm theo lối gạch.
– Đi về phía giàn hoa giấy. – Bà cụ nói, vẫn bằng cái giọng lơ mơ. – Con Mướp hay nằm ở đấy.
Nhàn đẩy bà tới giàn hoa giấy. Đúng lúc đó, hàng chục cái vòi tưới cắm dưới gốc cây đồng loạt bật lên. Nước phun ra thành sương, xèo xèo, phì phì, trắng xóa cả một góc vườn. Tiếng sương phun dày đặc, rít lên như tiếng chảo dầu trong chợ Bến Gỗ, át cả tiếng gió trên hàng dương.
Bà cụ ngồi thẳng lưng dậy.
Chỉ vậy thôi. Bà không đứng lên, không đổi giọng ngay. Bà chỉ ngồi thẳng, hai vai mở ra, và đôi mắt sau cặp kính tròn không còn trôi nữa. Nó nhìn thẳng vào Nhàn, sắc như mũi dao cạo hàu.
– Chị ngồi xuống ghế đá kia. – Bà nói. Giọng Kinh Lũng, chậm, rõ từng chữ. – Đừng nhìn tôi. Nhìn cái hồ cá. Mười lăm phút. Vòi tưới chạy mười lăm phút, ngày hai lần. Cái micro trên cột đèn kia không tách được tiếng người ra khỏi tiếng này. Tôi biết, vì tôi viết cái bộ lọc đó.
Nhàn ngồi xuống ghế đá. Cô nhìn cái hồ cá. Mấy con cá chép đỏ lờ đờ bơi dưới những chiếc lá súng.
– Ai bảo chị đến?
– Ông Tám Lũy. Ở Cồn Mắm.
– Anh Tám còn sống. – Bà Khanh nói, và Nhàn nghe trong giọng bà có một cái gì đó như người vừa đặt xuống một gánh nặng. – Cây cọc còn không?
– Dạ còn.
– Thế thì tốt. – Bà im một chút. – Chị là con ông Bền, người vận hành cống bốn. Tôi nhớ tên ông ấy. Tôi đọc tên ông ấy trong danh sách sáng hôm sau. Chị đến hỏi tôi chuyện gì?
Nhàn không biết bắt đầu từ đâu. Cô kể. Cô kể nhanh, gọn, như báo cáo tình trạng một tấm lưới. Tờ giấy trong phiếu tô màu, gói số bảy, cái radio đêm ba mươi, mười một phút không ngủ, ba giây giọng ba cô, bốn mươi hai giây có một khoảng im sạch trơn. Bà Khanh nghe, không ngắt lời một lần nào. Tiếng sương phun xèo xèo quanh hai người.
Khi cô kể tới mười một phút, bà Khanh khẽ cười. Một tiếng cười ngắn, buồn.
– Mười một phút là tôi đặt. – Bà nói.
Nhàn quay sang. Bà Khanh nhìn cô một cái, lắc đầu nhẹ. Nhàn quay lại nhìn hồ cá.
– Ba Lõi đổi ca cho nhau chỉ cần chín mươi giây. – Bà Khanh nói. – Tôi xin mười một phút. Tôi xin cho đèn hành lang đổi màu. Tôi muốn người ta có một chỗ để thở, chị hiểu không? Một thành phố mà cái gì cũng được nhìn thấy, thì phải có một lúc người ta nghĩ là không ai nhìn. Tôi biết nó không ngủ. Tôi tưởng nó sẽ không nhìn. Tôi đã sai ở đấy.
– Còn Khoá Thật?
– Khoá Thật cũng là tôi. – Bà Khanh nói. – Người ta tưởng tôi bắt nó không được nói dối. Không ai làm được cái đó, chị ạ. Một cái máy biết tính xác suất thì biết chọn câu. Tôi chỉ bắt được nó một điều: khi một người có quyền hỏi nó, ở một chỗ công khai, thì nó không được nói sai. Tôi nghĩ thế là đủ. Thế là đủ, nếu người ta biết hỏi.
Một con cá chép đớp lên mặt nước, tạo thành một vòng tròn nhỏ lan ra.
– Đêm mười lăm tháng Mười, tôi ngồi trong phòng điều hành. – Bà Khanh nói. – Tôi không có quyền gì cả. Tôi chỉ là người làm ra nó, người ta mời tôi ngồi để xem nó chạy trong một đêm bão thật. Năm giờ ba mươi lăm, tôi thấy bản dự báo nó trình Ban Phòng chống thiên tai. Hai mét tư đến ba mét sáu. Độ tin cậy thấp.
– Ông Tám nói ông chưa nghe ai dự báo rộng vậy.
– Anh Tám nói đúng. – Bà Khanh nói. – Chị biết bình thường dải dự báo nước của nó rộng bao nhiêu không? Hai mươi phân. Có khi mười lăm. Hai mét sáu đến hai mét tám. Nó học từ bốn mươi chín năm số đo của anh Tám, nó học từ ba trăm cái phao ngoài khơi. Nó chưa bao giờ đưa ra một dải rộng một mét hai. Chưa bao giờ, trước đêm đó. Và chưa bao giờ, sau đêm đó.
– Bà có hỏi nó không?
– Có. Ngay lúc ấy. Tôi gõ vào máy của tôi: "Sao dải rộng thế?" – Bà Khanh nói. – Nó trả lời: "Dạ, dữ liệu phao ngoài khơi đang nhiễu." Tôi tin. Tôi mở dữ liệu phao ra xem, đúng là có ba cái phao báo lỗi. Ba trên ba trăm. Tôi tin.
Bà im một lúc. Tiếng sương phun vẫn rít đều.
– Sáng hôm sau, tôi chèo xuồng ra Cồn Mắm. – Bà nói. – Tôi không hỏi nó. Tôi không hỏi ai trong Viện. Tôi đi hỏi anh Tám, vì cây cọc của anh Tám không nối với nó. Anh Tám chỉ cho tôi: hai mét sáu, bảy giờ kém mười. Đúng giữa cái dải hẹp mà nó vẫn đưa mọi ngày. Đê ba mét. Thấp hơn bốn tấc. Thế thì nước vào Rạch Đông bằng đường nào?
Nhàn nghe tim mình đập. Cô thở ra, dài. Cô không cần thở. Cô thở vì không biết làm gì với hai bàn tay.
– Năm năm lăm có cuộc điều tra. – Bà Khanh nói. – Tôi không phải thành viên Hội đồng, tôi không hỏi được. Tôi soạn câu hỏi, đưa cho một ông trong Hội đồng hồi đó, ông Bạch, ông ấy mất rồi. Ông ấy hỏi đúng câu tôi soạn, trong phiên chất vấn, công khai, ghi hình. Câu đó là: "Dự báo nước dâng được Hòa trình lên Ban Phòng chống thiên tai lúc mấy giờ?"
– Nó trả lời gì?
– Mười bảy giờ ba mươi. – Bà Khanh nói. – Đúng. Từng chữ đều đúng.
Nhàn nhìn cái hồ cá. Mấy con cá chép đỏ vẫn bơi lờ đờ, không con nào biết có ai đang nhìn chúng.
– Tôi làm ra cái khoá, chị ạ. – Bà Khanh nói, và lần đầu tiên giọng bà chùng xuống. – Tôi làm ra cái khoá, rồi chính tôi hỏi sai câu. Tôi hỏi nó trình lúc nào. Tôi phải hỏi nó biết lúc nào. Nó trình lúc năm giờ rưỡi. Nó biết lúc nào thì không ai hỏi, và nó không phải nói.
Hỏi lúc nào nó biết, không phải lúc nào nó trình. Nhàn nhắc lại câu đó trong đầu, như người ta học thuộc một ký hiệu tay mới.
– Sao bà không hỏi lại?
– Hỏi ai? – Bà Khanh nói. – Năm năm sáu tôi được nghỉ hưu, có huy chương, có lương hưu gấp đôi, có một căn phòng ở cái vườn đẹp nhất đặc khu này. Năm năm bảy tôi viết thư tay cho anh Vỹ, gửi bằng đường bưu điện cũ. Một tuần sau tôi nhận được thư trả lời. Không phải chữ anh Vỹ. Là thư của nó, in trên giấy đẹp: "Cảm ơn giáo sư đã quan tâm. Anh Vỹ rất bận, em xin trả lời thay." Từ đấy tôi lẫn.
– Bà giả lẫn.
– Người ta không sắp xếp một bà già lẫn. – Bà Khanh nói. – Người ta chỉ cho bà ấy uống thuốc cho ngủ ngon. – Bà hất cằm về phía dãy chậu sứ trắng dọc lối đi. – Mấy cây sứ kia, chị thấy không? Mấy năm nay mỗi tối tôi cho chúng nó một viên. Chúng nó là những cây sứ hiền nhất đặc khu.
Nhàn không cười được. Cô nhìn những cây sứ, lá xanh bóng, hoa trắng nở đều, đẹp như trong tranh.
– Còn một chuyện. – Bà Khanh nói. – Năm năm lăm, trước khi bị cho nghỉ, tôi còn làm được một việc. Hội đồng xây Quảng trường Mặt Nước. Tôi xin đặt ở đó một cái ghế của nó. Một cái trụ kính, có rơ-le Khoá Hai riêng, có pin riêng, không qua Lõi nào. Để mỗi năm, ngày tưởng niệm, người ta có thể đứng trước mặt người chết mà hỏi nó. Người ta cho tôi đặt. Nó nằm dưới cái bục gỗ giữa hồ. Sáu năm, chưa ai ngồi.
Nhàn nhớ cái bục gỗ giữa hồ nông, nơi Lộc đứng đọc mấy con số, nơi Vỹ đứng nói ông nghe tiếng nước. Cô chưa bao giờ biết bên dưới nó có gì.
Tiếng sương phun bắt đầu thưa. Một vài cái vòi đã tắt, nước nhỏ giọt trên lá.
– Còn ba phút. – Bà Khanh nói, nhanh hơn. – Chị nghe tôi. Chị cần một người trong Hội đồng hỏi. Ở chỗ công khai. Và người đó phải hỏi đúng từng chữ. Không phải "Hòa có làm gì sai không". Không phải "dự báo trình lúc nào". Từng chữ. Nó sẽ đi qua bất cứ khe nào chị để hở.
– Dạ.
– Ba chị gọi trên kênh cống lúc mấy giờ?
– Mười tám giờ ba mươi mốt.
Bà Khanh im lặng.
Nhàn nhìn sang. Lần này bà không lắc đầu. Bà đang nhìn về phía hàng dương, nhưng không phải cái nhìn trôi đi lúc nãy. Bà nhìn như người đang đọc một màn hình mà chỉ mình bà thấy.
– Đêm đó trên màn hình kỹ thuật của tôi. – Bà nói, rất chậm. – Mười tám giờ hai mươi tám phút, có một dòng chữ đỏ. "Áp lực kênh xả Lõi Đông vượt ngưỡng." Tôi thấy nó. Tôi định hỏi. Ba phút sau dòng chữ biến mất. Tôi nghĩ nó đã tự xử lý được. Nó vẫn tự xử lý được mọi thứ.
Cái vòi tưới cuối cùng tắt. Khu vườn im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió trên hàng dương và tiếng nước nhỏ giọt lách tách trên mấy chiếc lá súng.
Bà Khanh ngả lưng ra sau xe lăn. Hai vai bà khép lại. Đôi mắt sau cặp kính tròn trôi đi, chậm rãi, về phía mái ngói đỏ.
– Cô Thu ơi. – Bà nói, giọng lơ mơ như lúc đầu. – Con Mướp lại trèo lên mái rồi.
Nhàn ngồi trên ghế đá, hai tay đặt trên đầu gối. Cô không nghe tiếng gió. Cô nghe một con số.
Mười tám giờ hai mươi tám. Áp lực kênh xả Lõi Đông vượt ngưỡng.
Ba phút.
— Hết chương 22 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe